Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/9

07:03 | 24/09/2020

Thị trường mở tiếp tục không có giao dịch thành công. VN-Index tăng 6,31 điểm (+0,70%) lên 912,50 điểm; thanh khoản thị trường giảm so với phiên trước; khối ngoại mua ròng hơn 115 tỷ đồng…

diem lai thong tin kinh te ngay 239 106767 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/9
diem lai thong tin kinh te ngay 239 106767 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 21/9
diem lai thong tin kinh te ngay 239 106767

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 23/9, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.213 VND/USD, tiếp tục tăng 13 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được duy trì niêm yết ở mức 23.175 VND/USD; tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.859 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên giao dịch ở mức 23.184 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên 22/9. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh 50 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.220 - 23.250 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 23/9, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND giảm 0,01 - 0,05 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó, cụ thể: qua đêm 0,15%; 1 tuần 0,18%; 2 tuần 0,25% và 1 tháng 0,42%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không thay đổi ở kỳ hạn 1 tuần trong khi tăng 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn còn lại; giao dịch tại: qua đêm 0,17%; 1 tuần 0,22%; 2 tuần 0,30%, 1 tháng 0,43%.

Lợi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp tăng ở tất cả các kỳ hạn, cụ thể: 3 năm 0,78%; 5 năm 1,42%; 7 năm 1,80%; 10 năm 2,78%; 15 năm 2,99%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất ở mức 3,0%. Không có khối lượng trúng thầu, không có khối lượng lượng lưu hành trên kênh này.

Thị trường trái phiếu ngày 23/9, Kho bạc Nhà nước huy động thành công toàn bộ 15.750 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu. Trong đó, khối lượng trúng thầu các kỳ hạn 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm lần lượt tại 7.500 tỷ đồng, 5.250 tỷ đồng, 1.500 tỷ đồng và 1.500 tỷ đồng.

Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn lần lượt tại 10 năm 2,79%/năm (-0,03%); 15 năm 3,0% (-0,02%); 20 năm 3,27%/năm (-0,04%); 30 năm 3,48%/năm (-0,02%).

Thị trường chứng khoán phiên hôm qua diễn biến tích cực, hàng loạt cổ phiếu, đặc biệt cổ phiếu vốn hóa lớn tăng giá. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index tăng 6,31 điểm (+0,70%) lên 912,50 điểm; HNX-Index tăng 0,45 điểm (+0,34%) lên 132,64 điểm; UPCoM-Index tăng 0,30 điểm (+0,49%) lên 60,96 điểm.

Thanh khoản thị trường tuy giảm so với phiên trước đó vẫn ở mức cao với tổng giá trị giao dịch đạt gần 7.500 tỷ đồng. Khối ngoại mua ròng hơn 115 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

diem lai thong tin kinh te ngay 239 106767
VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 15/9, tổng phương tiện thanh toán M2 tăng 7,58% so với cuối năm 2019.

Tính từ năm 2012 đến cuối tháng 7/2020, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được hơn 1,11 triệu tỷ đồng nợ xấu, trong đó 7 tháng đầu năm 2020, tổng nợ xấu được xử lý là khoảng 63.700 tỷ đồng. Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 được xử lý từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020 đạt trung bình khoảng 7.150 tỷ đồng/tháng, cao hơn mức 3.630 tỷ đồng/tháng kết quả xử lý nợ xấu trung bình tháng giai đoạn 2012-2017 của hệ thống tổ chức tín dụng trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.

Tin quốc tế

Trong buổi điều trần trước Quốc hội Mỹ, Chủ tịch Fed Jerome Powell phát biểu mặc dù nền kinh tế quốc nội có những tiến bộ và phục hồi sau suy thoái, tuy nhiên vẫn còn một chặng đường dài phía trước, với hàng triệu người thất nghiệp khi so với hồi tháng 2/2020.

Ông Powell cho rằng Fed và Quốc hội cần đồng hành để quá trình phục hồi diễn ra nhanh hơn. Các chuyên gia phân tích động thái của ông Powell có ý nghĩa thúc giục một gói tài khóa hỗ trợ kinh tế mới từ Quốc hội, trong bối cảnh những gói hỗ trợ cũ đã hết hạn nhưng các nghị sỹ Mỹ vẫn đang bất đồng về quy mô gói hỗ trợ tiếp theo.

Hãng IHS Markit cho biết PMI lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ tại Mỹ lần lượt ở mức 53,5 và 54,6 điểm trong tháng 9, không thay đổi nhiều so với 53,1 và 55,0 điểm của tháng 8, đồng thời tích cực hơn một chút so với mức 52,5 và 54,5 điểm theo dự báo.

Markit nhận định diễn biến của quý III rất tích cực khi nhu cầu của thị trường tăng, khiến cho chỉ số sản lượng đầu ra và chỉ số nhân lực cùng tăng theo. Markit cũng đặt ra câu hỏi liệu tình hình quý IV tại Mỹ có tiếp tục lạc quan hay không, trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn đang tiếp tục lây lan, và những thông tin về bầu cử Tổng thống Mỹ có thể ảnh hưởng nhất định tới tâm lý của các nhà đầu tư.

PMI sơ bộ lĩnh vực sản xuất khu vực Eurozone ở mức 53,7 điểm trong tháng 9, cao hơn 51,7 điểm của tháng 8 và cũng cao hơn 51,5 điểm theo dự báo. Tuy nhiên, PMI sơ bộ lĩnh vực dịch vụ chỉ đạt 47,6 điểm trong tháng này, thấp hơn mức 50,5 điểm của tháng 8 đồng thời trái với kỳ vọng tăng lên 51,0 điểm.

Tại Đức, PMI lĩnh vực sản xuất cũng tăng từ 52,2 điểm trong tháng 8 lên mức 56,6 điểm trong tháng 9, bỏ xa mức 52,2 điểm theo dự báo. Trong khi đó, PMI lĩnh vực dịch vụ giảm mạnh từ 52,5 điểm của tháng 8 xuống 49,1 điểm trong tháng 9.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.040 23.270 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23..285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.066 23.266 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.450
Vàng SJC 5c
56.000
56.470
Vàng nhẫn 9999
53.650
54.150
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850