Điểm lại thông tin kinh tế ngày 3/7

07:30 | 04/07/2019

Thị trường mở phiên hôm qua cần bằng ở hai chiều bơm và hút. VN-Index giảm 1,59 điểm (-0,17%) xuống 960,39 điểm; HNX-Index tăng 0,21 điểm (+0,20%) lên 103,67 điểm; UPCOM-Index tăng 0,33 điểm (+0,60%) lên 55,29 điểm. Thanh khoản thị trường vẫn ở mức thấp. Khối ngoại bán ròng gần 5 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/7
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/7
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 24-28/6

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 3/7, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.056 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước đó. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.698 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.260 VND/USD, tăng 25 đồng so với phiên 2/7. Tỷ giá tự do giảm 40 đồng ở chiều mua vào và 30 đồng ở chiều bán ra, giao dịch tại 23.200 - 23.240 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 3/7, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục giảm 0,06 - 0,17 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên trước đó; giao dịch tại: qua đêm 3,50%; 1 tuần 3,67%; 2 tuần 3,77% và 1 tháng 3,95%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD không đổi ở kỳ hạn qua đêm trong khi tăng 0,01 - 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng; giao dịch tại: qua đêm 2,51%; 1 tuần 2,59%; 2 tuần 2,67%, 1 tháng 2,79%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm tất cả các kỳ hạn, giao dịch tại: 3 năm 3,55%; 5 năm 3,84%; 7 năm 4,17%; 10 năm 4,64%; 15 năm 4,99%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu tín phiếu 5.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 5.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lượng tín phiếu lưu hành ở mức 34.999 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán, nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn phân hóa mạnh, sắc đỏ chiếm ưu thế khiến chỉ số VN-Index giảm nhẹ. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 1,59 điểm (-0,17%) xuống 960,39 điểm; HNX-Index tăng 0,21 điểm (+0,20%) lên 103,67 điểm; UPCOM-Index tăng 0,33 điểm (+0,60%) lên 55,29 điểm.

Thanh khoản thị trường vẫn ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt gần 3.900 tỷ đồng. Khối ngoại bán ròng gần 5 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

World Bank họp báo công bố báo cáo thường niên cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam nửa đầu 2019. Giám đốc World Bank tại Việt Nam Ousmane Dione cho biết triển vọng với kinh tế Việt Nam vẫn tích cực.

Động lực tăng trưởng của kinh tế chủ yếu vẫn là ngành chế tạo khi ngành này tăng trưởng nhanh trong 4 năm qua. Ngành dịch vụ đạt kết quả kinh doanh tốt, các dấu hiệu cho thấy nhu cầu trong nước và đặc biệt là tiêu dùng tư nhân vẫn tăng bền vững.

Tuy nhiên, ông Dione vẫn khuyên Việt Nam cần chuẩn bị điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô, trong trường hợp bị tác động mạnh bởi các rủi ro căng thẳng thương mại và biến động tài chính.

Tin quốc tế

Lĩnh vực phi nông nghiệp Mỹ trong tháng 5 chỉ tạo ra 102.000 việc làm mới, cao hơn so với mức 27.000 của tháng trước đó tuy nhiên thấp hơn mức 140.000 theo kỳ vọng. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần kết thúc ngày 29/6 ở mức 221.000 đơn, thấp hơn mức 227.000 đơn của tuần trước đó và gần khớp dự báo 220.000 đơn.

Chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất Mỹ do ISM đo được ở mức 55,1 điểm trong tháng 6, giảm so với mức 56,9 điểm của tháng 5 đồng thời giảm sâu hơn dự báo ở mức 56,1 điểm.

Giá trị đơn đặt hàng nhà máy của nước này giảm 0,7% so với tháng trước trong tháng 5 sau khi giảm 0,8% ở tháng trước đó, sâu hơn mức giảm 0,4% theo dự báo.

Cuối cùng, cán cân thương mại Mỹ thâm hụt 55,5 tỷ USD trong tháng 5, sâu hơn mức thâm hụt 50,8 tỷ của tháng 4 đồng thời sâu hơn mức dự báo thâm hụt 53,2 tỷ.

PMI lĩnh vực dịch vụ của Anh ở mức 50,2 điểm trong tháng 6, giảm so với mức 51,0 điểm của tháng 5 đồng thời là mức dự báo của các chuyên gia.

Số đơn cấp phép xây dựng của Úc phục hồi 0,7% so với tháng trước trong tháng 5 sau khi giảm mạnh 3,4% ở tháng trước đó, trái với dự báo không thay đổi (0,0%).

Cũng trong tháng 5, cán cân thương mại Úc thặng dư 5,75 tỷ AUD, cao hơn mức thặng dư 4,28 tỷ của tháng trước đó đồng thời vượt qua mức kỳ vọng thặng dư 5,25 tỷ.

Giá USD ngày 3/7 ở mức 0,89 EUR (+0,02% so với phiên trước); giá EUR ở mức 1,129 USD (-0,02% so với phiên trước).

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
45.000
45.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
45.000
45.400
Vàng SJC 5c
45.000
45.420
Vàng nhẫn 9999
44.980
45.480
Vàng nữ trang 9999
44.600
45.400