Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 15-19/4

08:38 | 22/04/2019

Tuần từ 15/04 – 19/04, tỷ giá trung tâm chỉ được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt tuần 19/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 22.998 VND/USD, tăng 02 đồng so với cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay vẫn được NHNN niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. 

Ảnh minh họa

Giá xăng tăng 4.000 đồng/lít tính từ đầu năm đến nay, cùng với giá điện tăng cao 8,36% không chỉ gây áp lực cho người dân và doanh nghiệp mà còn có thể tác động tới mục tiêu lạm phát dưới 4% mà Quốc hội đề ra. 

Cụ thể, trong kỳ điều chỉnh gần nhất ngày 17/04, giá của các mặt hàng xăng trên thị trường đều tăng: xăng E5RON 92 tăng 1.115 đồng mỗi lít; xăng RON 95 thêm 1.202 đồng. Sau điều chỉnh, giá mỗi lít E5RON 92 tối đa 19.703 đồng; RON 95 có mặt bằng giá mới 21.235 đồng. Đây là lần tăng giá thứ 3 của xăng từ đầu năm đến nay.

Theo Tổng cục Thống kê, việc tăng giá xăng dầu trong hai lần vừa qua sẽ tác động đến diễn biến thị trường, có thể làm chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng thêm 0,41% ngay trong tháng 4 này. Theo các chuyên gia, 5 nhóm ngành chịu tác động trực tiếp và mạnh từ việc tăng giá xăng gồm: Dịch vụ vận chuyển, lưu trữ và bưu chính; Dịch vụ lưu trú và ăn uống; Thủy sản; Dịch vụ khí đốt, cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải và Dịch vụ vận tải, kho bãi. 5 nhóm ngành chịu tác động từ vòng sau gồm: Sản phẩm kim loại; Sản xuất thực phẩm đồ uống và thuốc lá; Sản phẩm hóa chất, cao su, nhựa, thuốc, hóa và dược liệu, khoáng phi kim loại; Sản xuất xe có động cơ, rơ mooc và khai khoáng. Đây là những nhóm ngành sử dụng sản phẩm đầu vào từ ngành khác nhiều, nên tác động của việc tăng giá sẽ có độ trễ. Chịu tác động trực tiếp và mạnh nhất của giá xăng dầu chính là lĩnh vực vận tải khi chi phí về xăng dầu chiếm tới 40% chi phí đầu vào của các doanh nghiệp này.

Việc tăng giá xăng dầu liên tiếp trong tháng 4 chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới CPI tháng này. Theo Bộ Tài chính, giá xăng dầu thế giới thời gian gần đây đang diễn biến bất ổn với xu hướng tăng. Trước diễn biến này, cơ quan chức năng đã tính tới 3 kịch bản chỉ số giá tiêu dùng CPI năm 2019 với các mức độ tăng giá xăng, dầu khác nhau. Trong đó, kịch bản thứ nhất là nếu giá xăng, dầu bình quân thế giới tăng 5%, CPI năm 2019 có thể tăng 3,4% so với năm 2018. Kịch bản thứ hai là nếu giá xăng dầu thế giới tăng 10%, khi ấy CPI năm 2019 sẽ tăng khoảng 3,7%. Với kịch bản cuối cùng là giá xăng, dầu thế giới tăng 15% có thể sẽ khiến CPI tăng ở mức 3,8-3,9%.

Trước đó, trong 3 tháng đầu năm, nhà điều hành đã dùng quỹ Bình ổn xăng dầu để giữ không tăng giá xăng dầu trong khi giá xăng dầu thế giới cuối tháng 3/2019 tăng mạnh so với cuối 2018. Các chuyên gia đánh giá, do lo ngại tăng giá xăng dầu vào thời điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán khiến mặt bằng giá cả hàng hóa tăng theo làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Chính phủ, liên bộ Bộ Công Thương – Tài chính đã quyết định cho xả Quỹ bình ổn và giữ ổn định giá xăng dầu (2 kỳ điều hành trước và 2 kỳ điều hành sau Tết Nguyên đán).

Trước áp lực giá điện tăng 8,36% vào cuối tháng 3, kỳ điều hành ngày 18/3/2019, liên Bộ tiếp tục giữ ổn định giá xăng dầu và cho xả Quỹ bình ổn mức kỷ lục với xăng E5RON92 là 2.801 đồng/lít; Xăng RON95 2.061 đồng/lít làm Quỹ bình ổn hầu hết doanh nghiệp đầu mối bị âm, có DN âm đến vài trăm tỷ đồng. Việc giữ giá xăng dầu, xả quỹ kỷ lục, tăng giá điện nhưng CPI tháng 3 vẫn âm 0,21% so với tháng 2/2019 được các chuyên gia cho là lãng phí tiền Quỹ bình ổn của người dân đóng góp, do sử dụng mức xả quỹ và thời điểm không thích hợp.

Một số chuyên gia phân tích, kỳ điều hành giá xăng dầu 18/3/2019 Bộ Công Thương (tham mưu và đề xuất với Chính Phủ) đã bỏ lỡ cơ hội điều chỉnh tăng giá xăng dầu, vì nếu có điều chỉnh tăng giá xăng dầu vào thời điểm đó và tăng giá điện vào cuối tháng 3 thì giá cả 2 mặt hàng này tác động trực tiếp vào CPI tháng 3 cũng không đáng kể, giảm tải áp lực lạm phát của 2 hai mặt hàng này cho tháng 4 và tiếp bổ sung nguồn cho Quỹ bình ổn xăng dầu.

Cũng có một kiến nghị nữa là ở thời điểm hiện tại, Nhà máy Dung Quất đã có hơn 10 năm vận hành ổn định, Nhà máy Nghi Sơn khoảng cuối năm 2019 hoặc đầu 2020 sẽ vận hành ổn định, những sản phẩm xăng dầu của 2 nhà máy này, về cơ bản đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Vì vậy, đến lúc đó nên chấm dứt hoạt động của Quỹ bình ổn giá và chấm dứt hiệu lực của Nghị định 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu sau hơn 5 năm thực hiện.

Tóm lược thị trường trong nước 

Thị trường ngoại tệ: Tuần từ 15/04 – 19/04, tỷ giá trung tâm chỉ được NHNN điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt tuần 19/04, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 22.998 VND/USD, tăng 02 đồng so với cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay vẫn được NHNN niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. Tỷ giá bán ra được niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, phiên cuối tuần ở mức 23.638 VND/USD.

Tỷ giá LNH đã có xu hướng tăng nhẹ trở lại trong tuần vừa qua. Chốt tuần 19/04, tỷ giá giao dịch ở mức 23.210 VND/USD, tăng 10 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tiếp tục ít biến động trong tuần vừa qua. Kết thúc ngày 19/04, tỷ giá tăng 15 đồng ở chiều mua vào và 10 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch ở mức 23.210 VND/USD - 23.220 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Lãi suất LNH VND giảm trở lại ở tất cả các kỳ hạn trong tuần vừa qua. Chốt tuần 19/04, lãi suất giao dịch quanh mức: ON 3,93% (-0,32 đpt); 1W 4,0% (-0,35 đpt); 2W 4,10% (-0,28 đpt); 1M 4,15% (-0,27 đpt).

Lãi suất LNH đối với USD tiếp tục biến động nhẹ trong tuần vừa qua. Cuối tuần 19/04, lãi suất đứng ở mức ON 2,53% (không thay đổi); 1W 2,64% (+0,01 đpt), 2W 2,69% (+0,01 đpt) và 1M 2,83% (không thay đổi).

Thị trường mở: Tuần từ 15/04 – 19/04, NHNN đều đặn chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố vẫn với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%. Tuy nhiên, không có khối lượng trúng thầu. Như vậy, tiếp tục không có khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố.

NHNN chỉ chào thầu 5.000 tỷ đồng tín phiếu NHNN với kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0% ở phiên đầu tuần, sau đó không tiếp tục chào thầu tín phiếu. Các TCTD hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong tuần có 10.200 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn. Như vậy, NHNN bơm ròng 5.200 tỷ đồng ra thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành trên thị trường giảm xuống mức 5.000 tỷ đồng.

Thị trường trái phiếu: Ngày 17/4, KBNN huy động thành công 3.101/4.000 tỷ đồng gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 78%). Trong đó, kỳ hạn 15 năm huy động được toàn bộ 1.500 tỷ đồng gọi thầu; kỳ hạn 10 năm huy động được 1.390/1.500 tỷ đồng; kỳ hạn 20 năm huy động được 211/500 tỷ đồng; kỳ hạn 5 năm đấu thầu thất bại. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm, 15 năm giữ nguyên lần lượt tại 4,72%/năm và 5,06%/năm; kỳ hạn 20 năm tại 5,7%/năm – tăng 0,5% so với phiên trước. Tỷ lệ đặt thầu ở mức 2 – 2,2 lần với các kỳ hạn từ 5 năm đến 15 năm, ở mức 0,8 lần với kỳ hạn 20 năm.

Trên thị trường thứ cấp, giá trị giao dịch Outright và Repos trung bình trên thị trường đạt khoảng 8.200 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức 9.000 tỷ đồng/phiên trong tuần trước đó. Chốt phiên 19/04, lợi suất TPCP trên thị trường thứ cấp ít biến động so tuần trước đó. Cụ thể, các mức lợi suất TPCP giao dịch quanh 1Y 3,27%; 2Y 3,48%; 3Y 3,62%; 5Y 3,86%; 7Y 4,2%; 10Y 4,74%.

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần vừa qua tiêu cực trở lại khi cả 3 sàn đều tràn ngập sắc đỏ, đồng thời thanh khoản ở mức thấp. Phiên cuối tuần 19/04, VN-Index đứng ở mức 966,21 điểm, giảm mạnh 16,69 điểm (-2,0%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm mạnh 1,82 điểm (-1,57%), xuống mức 105,88 điểm; UPCOM-Index giảm 0,59 điểm (-0,78%) xuống 56,05 điểm. 

Thanh khoản thị trường sụt giảm so với tuần trước đó với giá trị giao dịch trên 3.500 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại mua ròng mạnh trên 580 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong cả tuần qua.

Tin quốc tế

Liên quan đến thông tin quốc tế, thế giới chú ý tới kinh tế Mỹ, Anh và một Trung Quốc lạc quan hơn, trong bối cảnh không có thông tin quan trọng về thương mại Mỹ - Trung và Brexit. Kinh tế Mỹ trong tuần đón nhận nhiều thông tin trái chiều, song nổi bật lên là doanh số bán lẻ có sự tăng trưởng cao bất ngờ khiến cho thị trường trở nên lạc quan hơn.

Tại Anh, thị trường lao động luôn luôn cho thấy sự lạc quan nhiều tháng trở lại đây, là một trong những chỉ số quan trọng của đất nước này giữa bối cảnh nhiều bất ổn từ quá trình Brexit. Trung Quốc là nơi được chú ý nhất tuần vừa qua khi báo cáo cho thấy đà giảm tốc của nền kinh tế thứ hai thế giới không nghiêm trọng như dự báo. Trái lại, thị trường này liên tiếp đón nhận chỉ báo tích cực về ngành công nghiệp, doanh số bán lẻ và cả thị trường lao động. Nhiều chuyên gia dự báo Trung Quốc có thể sẽ đạt được nhiều điều tích cực hơn nữa nếu nhanh chóng giải quyết những vấn đề tồn động trong thương mại song phương với Mỹ. 

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.822 23.042 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.850 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.850 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.840 23.055 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.827 23.042 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.250
Vàng SJC 5c
56.550
57.270
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400