Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 25-29/11

07:30 | 02/12/2019

Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 62.178 tỷ đồng. Chốt phiên cuối tuần 29/11, VN-Index đứng ở mức 970,75 điểm, giảm 7,03 điểm (-0,72%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 0,59 điểm (-0,57%), xuống mức 102,50 điểm; UPCOM-Index giảm 0,74 điểm (-1,31%) xuống mức 55,66 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp. Khối ngoại mua ròng nhẹ gần 30 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 28/11
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 27/11
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 26/11
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 25/11

Tổng quan

Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu kinh tế tháng 11, trong đó CPI tháng 11 tăng 0,96%, mức cao nhất tháng 11 trong 9 năm, trong khi thặng dư cán cân thương mại tiếp tục ở mức cao kỷ lục.

Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 11/2019 tăng 0,96% so với tháng 10, nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung thịt lợn giảm làm giá thịt lợn và các thực phẩm chế biến từ thịt tăng cao.

Trong mức tăng 0,96% của CPI tháng 11/2019 so với tháng trước có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 2,74% (lương thực tăng 0,26%, thực phẩm tăng 4,11%). Các nhóm tăng khác gồm: Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,2%; Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,13% (chủ yếu do giá gas trong nước điều chỉnh tăng vào thời điểm 1/11/2019 làm chỉ số giá gas tăng 0,99%, nhóm nhà ở đi thuê tăng 0,38% và dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,4%); Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,12%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục cùng tăng 0,04%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%.

Ở chiều ngược lại, chỉ có 2 nhóm có chỉ số giá giảm là giao thông giảm 0,73% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 31/10/2019 và điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 15/11/2019 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 1,7% (tác động làm CPI chung giảm 0,07%); và nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,09%.

Tính bình quân 11 tháng, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 2,57% so với cùng kỳ năm 2018, thấp nhất trong 3 năm gần đây. CPI tháng 11/2019 tăng 3,78% so với tháng 12/2018 và tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước, vẫn thấp hơn chỉ tiêu của Chính phủ (4%).

Về thương mại, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 11 tháng năm 2019 cán mốc 473,73 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 241,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, cả nước xuất siêu 9,1 tỷ USD. 

Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 11 đạt 22,6 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng cao 25,8%, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,5%. Tính chung 11 tháng năm 2019, xuất khẩu đạt 241,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Đặc biệt, xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước tăng 18,1%, chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 3,8%, chiếm 69%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 232,31 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018. Cán cân thương mại hàng hóa 11 tháng năm 2019 xuất siêu 9,1 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,6 tỷ USD.

Đáng chú ý, trong 11 tháng năm nay, có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó có đến 5 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,6%.

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ trong tuần từ 25 - 29/11, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh theo xu hướng tăng nhẹ. Chốt tuần 29/11, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.162 VND/USD, tăng 11 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá mua giao ngay được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.200 VND/USD trong 4 phiên đầu tuần, phiên cuối tuần Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.175 VND/USD, giảm 25 đồng. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.807 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá liên ngân hàng trong tuần qua giảm nhẹ sau khi tăng nhẹ ở tuần trước đó. Kết thúc phiên cuối tuần 29/11, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.180 VND/USD, giảm 18 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do biến động mạnh hơn các tuần trước đó, chốt phiên cuối tuần tăng 30 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.240 - 23.270 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 25 - 29/11, lãi suất liên ngân hàng VND tiếp tục tăng ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống, tuy đà tăng đã giảm so với tuần trước đó. Phiên cuối tuần 29/11, lãi suất liên ngân hàng VND giao dịch quanh mức: qua đêm 3,83% (+0,38 điểm phần trăm); 1 tuần 4,03% (+0,43 điểm phần trăm); 2 tuần 4,13% (+0,45 đ điểm phần trăm); 1 tháng 4,30% (+0,58 điểm phần trăm).

Lãi suất liên ngân hàng USD tiếp tục ít biến động trong tuần vừa qua ở tất cả các kỳ hạn. Cuối tuần 29/11, lãi suất đứng ở mức: qua đêm 1,75% (+0,02 điểm phần trăm); 1 tuần 1,85% (+0,02 điểm phần trăm), 2 tuần 1,95% (+0,02 điểm phần trăm) và 1 tháng 2,13% (+0,02 điểm phần trăm).

Thị trường mở tuần qua, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 62.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, 4 phiên đầu tuần với kỳ hạn 7 ngày, phiên cuối tuần với kỳ hạn 14 ngày. Lãi suất chào thầu phiên đầu tuần ở mức 4,5%, các phiên sau đó lãi suất giảm xuống mức 4,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được 49.179 tỷ đồng.

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu. Trong tuần có gần 13.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn, chốt tuần không còn tín phiếu lưu hành trên thị trường.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 62.178 tỷ đồng ra thị trường thông qua kênh nghiệp vụ thị trường mở trong tuần vừa qua.

Thị trường trái phiếu tuần 25/11 - 29/11, có 2 cơ quan phát hành trái phiếu chính phủ là Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB). Kết quả, hai cơ quan này huy động thành công 7.647/9.047 tỷ đồng gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 85%).

Cụ thể, ngày 26/11, VDB huy động thành công 2.147/3.547 tỷ đồng trái phiếu chính phủ bảo lãnh gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 60,5%). Trong đó, kỳ hạn 5 năm và 7 năm đấu thầu thất bại. Kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động được toàn bộ 2.147 tỷ đồng. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn giảm từ 3 - 10 điểm so với phiên trước.

Ngày 27/11, Kho bạc Nhà nước huy động được toàn bộ 5.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu. Trong đó, kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động được 2.000 tỷ đồng/kỳ hạn, kỳ hạn 20 năm huy động được 1.500 tỷ đồng.

Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm giảm 11 điểm xuống mức 3,51%/năm; kỳ hạn 15 năm giảm 9 điểm xuống mức 3,65%/năm, kỳ hạn 20 năm giảm 30 điểm xuống mức 4,02%/năm.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường trái phiếu thứ cấp tuần qua đạt trung bình 11.544 tỷ đồng/phiên, giảm so với mức hơn 13.000 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.

Lợi suất trái phiếu chính phủ giảm mạnh so với tuần trước đó. Cụ thể, lợi suất trái phiếu chính phủ phiên cuối tuần 29/11 giao dịch quanh: 1 năm 2,02% (-0,10 điểm phần trăm); 2 năm 2,10% (-0,10 điểm phần trăm); 3 năm 2,21% (-0,12 điểm phần trăm); 5 năm 2,33% (-0,10 điểm phần trăm); 7 năm 3,16% (-0,04 điểm phần trăm); 10 năm 3,54% (-0,15 điểm phần trăm); 15 năm 3,65% (-0,13 điểm phần trăm).

Thị trường chứng khoán tuần qua tiếp tục đà giảm của tuần trước đó trên cả 3 sàn, mặc dù đà giảm đã yếu đi. Chốt phiên cuối tuần 29/11, VN-Index đứng ở mức 970,75 điểm, giảm 7,03 điểm (-0,72%) so với cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 0,59 điểm (-0,57%), xuống mức 102,50 điểm; UPCOM-Index giảm 0,74 điểm (-1,31%) xuống mức 55,66 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp khi giá trị giao dịch chỉ đạt khoảng trên 4.200 tỷ đồng/phiên. Khối ngoại mua ròng nhẹ gần 30 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần vừa qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Tin quốc tế

Trên thị trường quốc tế, căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang là tâm điểm của thị trường tuần qua. Cụ thể, hai nước này xảy ra mâu thuẫn sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đặt bút ký dự luật Hong Kong, chính thức ủng hộ những người biểu tình tại thành phố này. Phía Trung Quốc bày tỏ quan điểm cho rằng Mỹ đang can thiệp vào công việc nội bộ của nước này và sẽ dùng các biện pháp cứng rắn để đáp trả.

Đây thực sự là nỗi lo đối với thị trường khi thời hạn mà Mỹ và Trung Quốc cần có một thỏa thuận là không còn nhiều, trước khi Tổng thống Trump có thể tiếp tục đánh thêm thuế quan bổ sung vào ngày 15/12.

Cũng trong tuần qua, Liên minh Châu Âu đã thành lập ủy ban mới mà không có sự tham gia của nước Anh, phía London cũng cho thấy động thái ủng hộ quyết định này.

Về kinh tế, cả Mỹ và Eurozone đều đón những thông tin khá tích cực trong tuần qua, đặc biệt là chỉ số GDP quý III của Mỹ cho thấy sự lạc quan hơn, theo như báo cáo sơ bộ lần 2.

Trong tháng 12, tất cả các ngân hàng trung ương lớn đều có cuộc họp chính sách cuối cùng của năm 2019. Lần lượt, ngân hàng trung ương Úc RBA họp ngày 3/12, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed họp ngày 10-11/12, ngân hàng trung ương Châu Âu ECB họp ngày 12/12, ngân hàng trung ương Nhật BOJ họp ngày 17-18/12, và cuối cùng là ngân hàng trung ương Anh BOE họp ngày 19/12.

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 25.667 26.894 28.701 29.729 212,13 222,94
BIDV 23.565 23.725 26.021 26.860 29.028 29.611 213,97 222,40
VietinBank 23.560 23.730 26.026 26.861 28.989 29.629 216,95 224,65
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.550 23.710 25.966 26,569 29.046 29.720 217,43 222,47
ACB 23.550 23.710 26.002 26.403 29.132 29.507 218,48 221,85
Sacombank 23.538 23.720 26.014 29.645 29.126 29.645 217,69 224,07
Techcombank 23.552 23.712 25.746 26.722 28.734 29.680 216,67 223,64
LienVietPostBank 23.500 23.680 25.634 26.628 28.764 29.745 214,87 226,07
DongA Bank 23.570 23.700 25.980 26.410 29.020 29.540 213,50 220,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
48.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
48.300
Vàng SJC 5c
47.100
48.320
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.900
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.700