Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ ngày 12 - 16/10

08:41 | 19/10/2020

Một số thông tin kinh tế đáng chú ý trong tuần qua gồm: Tổng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 9/2020 đạt 51,37 tỷ USD, tăng 1,9% so với tháng trước đó; Tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng - giảm nhẹ 4 phiên đầu tuần và tăng mạnh 09 đồng ở phiên cuối tuần...

Tổng quan:

Cán cân thương mại Việt Nam 9 tháng đầu năm 2020 ghi nhận mức xuất siêu kỷ lục, tuy nhiên các chuyên gia cũng đưa ra nhiều ý kiến lo ngại về xu thế này trong năm nay.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 9/2020 đạt 51,37 tỷ USD, tăng 1,9% so với tháng trước đó. Luỹ kế đến hết tháng 9, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 388,62 tỷ USD. Cụ thể, kim ngạch XK hàng hóa tháng 9/2020 đạt trên 27,16 tỷ USD, giảm 1,9% so với tháng 8. Ở chiều ngược lại, kim ngạch NK hàng hóa tháng 9 đạt trên 24,2 tỷ USD, tăng 6,5% so với tháng trước đó. Như vậy, tháng 9 ghi nhận xuất siêu gần 2,96 tỷ USD. Lũy kế 9 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch XK đạt 202,57 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Với NK, tổng kim ngạch 9 tháng đầu năm đạt gần 186,05 tỷ USD, giảm 0,7%. Với kết quả trên, trong 9 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất siêu trên 16,52 tỷ USD, trong đó khối FDI xuất siêu 25,97 tỷ USD và khối doanh nghiệp trong nước nhập siêu gần 9,45 tỷ USD.

Các chuyên gia kinh tế đưa ra những ý kiến trái chiều về kỷ lục xuất siêu của Việt Nam trong năm nay. Một mặt, việc duy trì được xuất siêu mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Xuất siêu lớn giúp tăng nguồn cung ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại hối và cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tỷ giá đồng nội tệ. Từ đó, khả năng can thiệp của cơ quan điều hành cũng tốt hơn. Ngoài ra, một điểm sáng nổi bật của bức tranh XNK 9 tháng năm 2020 là sự tăng trưởng vượt bậc của khu vực doanh nghiệp trong nước. Cụ thể, những năm trước, xuất khẩu của khối DN FDI luôn đạt mức tăng trưởng cao hơn so với khối DN trong nước thì năm 2020, khối DN trong nước đã đạt mức tăng trưởng khá, có phần nhỉnh hơn khối FDI. Các DN trong nước cũng đang tận dụng khá tốt các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020. Nhiều sản phẩm chủ lực của Việt Nam đã được thị trường EU đón nhận và hưởng ưu đãi. Từ đầu tháng 8 đến nay, XK thủy sản có số lượng đơn hàng tăng khoảng 10% so với tháng 7; kim ngạch XK sang thị trường EU tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2019… Hơn nữa, khối DN trong nước đã chủ động tìm giải pháp để thích ứng và có ứng phó rất phù hợp khi dịch Covid-19 xảy ra, động khai thác tất cả các nguồn nguyên liệu đầu vào để phục vụ cho sản xuất và XK.

Ngược lại, nhiều chuyên gia cũng có những lo ngại về tình trạng này. Chu kỳ 9 tháng những năm gần đây, XK tăng khá nhưng vẫn ở mức thấp. Năm 2019, XK 9 tháng tăng 8,4%, năm 2018 là 15,8%, còn năm 2017 là 20,6%. Trong khi đó, NK giảm một phần do nhu cầu sử dụng và sản xuất bị ảnh hưởng do Covid-19. Xét theo cơ cấu, NK máy móc, thiết bị, dụng cụ chỉ tăng 0,9%, còn NK nguyên vật liệu giảm tới 3,1%. Có thể nói đây là điều kiện khách quan do Covid-19, nên, trong những tháng cuối năm và năm 2021, nếu dịch bệnh được khống chế hoàn toàn, NK có thể phục hồi và tăng trưởng trở lại.

Có thể nhận thấy, xuất siêu chủ yếu do NK giảm đi, chứ không phải nhờ XK tăng trưởng mạnh, đồng thời xuất siêu dựa chính vào khối doanh nghiệp FDI. Bên cạnh đó, việc xuất siêu vượt cả các năm trước có thể là tín hiệu không vui, cho thấy Việt Nam không nhập được nguyên liệu.

Từ trước đến nay, NK chủ yếu là nhập yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất. Năm nay, lượng nguyên liệu nhập về giảm do hai nguyên nhân. Thứ nhất là không có đơn hàng xuất khẩu nên không nhập. Thứ hai là khi có đơn hàng xuất khẩu thì chuỗi cung ứng NVL lại bị đứt gãy nên không nhập được. Doanh nghiệp có thể chủ yếu sử dụng nguồn nguyên liệu dự trữ từ trước để XK chứ không nhập được cho giai đoạn sau.

Giảm NK nghĩa là giảm nhập tư liệu sản xuất, có khả năng gây ảnh hưởng đến chuỗi sản xuất trong tương lai. Nhiều mặt hàng là đầu vào của các ngành XK cũng giảm, ví dụ máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 26,3 tỷ USD, giảm 1,8%; điện thoại và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, giảm 0,6%; vải đạt 8,4 tỷ USD, giảm 13,4%; sắt thép đạt 6,1 tỷ USD, giảm 15,5%; chất dẻo đạt 6 tỷ USD, giảm 11,2%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,2 tỷ USD, tăng 8,1%; kim loại thường đạt 4,3 tỷ USD, giảm 9,4%; ô tô đạt 4,1 tỷ USD, giảm 24,5%; sản phẩm hóa chất đạt 4 tỷ USD, tăng 2,8%. Ngoài ra, cũng có ý kiến lưu ý thêm rằng, thời gian vừa qua XK các mặt hàng liên quan nhiều đến mùa dịch, điển hình là hàng dệt may, khẩu trang y tế… khá thuận lợi.

Tuy nhiên, đây không phải là mặt hàng tiềm năng cho XK trong quý sau hay dài hạn năm sau khi cung – cầu các mặt hàng này trên thị trường thế giới sẽ dần ổn định lại, không có tình trạng thiếu hụt đột xuất.

Tóm lược thị trường trong nước từ 12/10 - 16/10

Thị trường ngoại tệ: Tuần từ 12/10 - 16/10, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng - giảm nhẹ 4 phiên đầu tuần và tăng mạnh 09 đồng ở phiên cuối tuần. Chốt phiên 16/10, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.201 VND/USD, tăng 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Tỷ giá mua giao ngay được NHNN giữ nguyên niêm yết ở mức 23.175 VND/USD ở tất cả các phiên. Tỷ giá bán được NHNN niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, chốt tuần ở mức 23.847 VND/USD.

Tỷ giá LNH không biến động mạnh trong tuần vừa qua. Chốt phiên 16/10, tỷ giá LNH đóng cửa tại 23.177 VND/USD, giảm nhẹ 03 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.

Tỷ giá trên thị trường tự do tuần qua giảm 2 phiên đầu tuần rồi tăng trở lại 3 phiên cuối tuần. Chốt tuần 16/10, tỷ giá tự do tăng 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.210 – 23.240 VND/USD.

Thị trường tiền tệ LNH: Trong tuần từ 12/10 - 16/10, lãi suất VND LNH vẫn ít biến động ở tất cả các kỳ hạn qua các phiên trong tuần. Chốt phiên 16/10, lãi suất VND LNH giao dịch quanh mức: ON 0,14% (không thay đổi so với phiên cuối tuần trước đó); 1W 0,18% (-0,01 đpt); 2W 0,24% (-0,02 đpt); 1M 0,37% (-0,04 đpt).

Tương tự, lãi suất USD LNH chỉ biến động nhẹ qua các phiên trong tuần qua ở tất cả các kỳ hạn. Cuối phiên 16/10, lãi suất USD LNH đứng ở mức ON 0,16 (-0,01 đpt); 1W 0,20% (-0,03 đpt); 2W 0,27% (-0,02 đpt) và 1M 0,36% (-0,02 đpt).

Thị trường mở: Trên thị trường mở tuần từ 12/10 - 16/10, NHNN chào thầu 1.000 tỷ đồng/phiên trên kênh cầm cố ở tất cả các phiên với kỳ hạn 07 ngày, lãi suất duy trì ở mức 2,50%. Không có khối lượng trúng thầu trong tuần qua, đồng thời cũng không có khối lượng đáo hạn trên kênh này.

NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần qua.

Thị trường trái phiếu: Trong tuần qua, KBNN huy động thành công 9.217/12.000 tỷ đồng TPCP gọi thầu (tỷ lệ trúng thầu 77%). Trong đó, kỳ hạn 10 năm huy động 3.422/4.500 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm huy động 3.350/4.000 tỷ đồng, kỳ hạn 20 năm huy động 945/2.000 tỷ đồng, kỳ hạn 30 năm huy động toàn bộ 1.500 tỷ đồng. Lãi suất kỳ hạn 10 năm tại 2,53%/năm (-0,22%); kỳ hạn 15 năm tại 2,7%/năm (+0,04%); kỳ hạn 20 năm và 30 năm giữ nguyên tại 3,02%/năm và 3,25%/năm. Trong tuần qua có 650 tỷ đồng TPCP đáo hạn. Trong tuần này từ 19/10 - 23/10, KBNN dự kiến gọi thầu 9.000 tỷ đồng (chưa bao gồm khối lượng gọi thầu bổ sung). Trong tuần này, lượng TPCP đáo hạn là 10.796 tỷ đồng.

Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 10.543 tỷ đồng/phiên, giảm mạnh từ mức 12.200 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất TPCP tuần qua biến động trái chiều ở các kỳ hạn. Chốt phiên 16/10, lợi suất TPCP giao dịch quanh 1 năm 0,18% (-0,01 đpt); 2 năm 0,31% (-0,01 đpt); 3 năm 0,38% (-0,01 đpt); 5 năm 1,19% (+0,01đpt); 7 năm 1,47% (+0,02 đpt); 10 năm 2,55% (+0,02 đpt); 15 năm 2,73% (+0,05 đpt); 30 năm 3,24% (-0,02 đpt).

Thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán tuần qua tiếp tục khởi sắc với cả 2 sàn chính đều ngập sắc xanh. Kết thúc phiên cuối tuần 16/10, VN-Index đạt 943,30 điểm, tăng mạnh 19,30 điểm (+2,09%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index tăng 2,91 điểm (+2,13%), lên mức 139,82 điểm; UPCOM-Index giảm nhẹ 0,16 điểm (-0,25%) xuống mức 63,85 điểm.

Thanh khoản thị trường vọt tăng cao so với tuần trước đó với giá trị giao dịch đạt trên 10.500 tỷ đồng/phiên. Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh hơn 1.900 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong tuần qua.

Tin quốc tế

Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF nâng triển vọng kinh tế thế giới 2020. Bên cạnh đó, GDP Việt Nam được dự báo chỉ tăng trưởng nhẹ. Cụ thể, IMF dự báo GDP toàn cầu năm 2020 sẽ giảm 4,4%, tích cực hơn mức giảm 5,2% theo dự báo đưa ra hồi tháng 6. Theo đó, GDP thế giới năm 2021 được tổ chức này điều chỉnh thành mức tăng 5,2%; thấp hơn một chút so với mức tăng 5,4% của dự báo trước.

Kinh tế Mỹ được nhận định đang cho thấy phục hồi nhanh hơn kỳ vọng, do đó chỉ còn giảm 4,3% trong năm nay thay vì mức giảm 8,0% như dự báo trước đây. Khu vực Châu Âu được dự báo giảm 8,3%; Nhật Bản giảm 5,3%; Anh giảm 9,8% và Trung Quốc tăng 1,9%. Đối với năm 2021, GDP các nước trên lần lượt được dự báo: Mỹ tăng 3,1%; Euro tăng 5,2%; Nhật Bản tăng 2,3%; Anh tăng 5,9% và Trung Quốc tăng 8,2%. GDP khu vực ASEAN 5 (bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam) được dự báo giảm 3,4% trong năm nay, tiêu cực hơn so với dự báo chỉ giảm 2,0% hồi tháng 6.

Sang đến năm 2021, nhóm nước này được dự báo tăng trở lại ở mức 6,2%, không có điều chỉnh so với dự báo cũ. Riêng với Việt Nam, GDP trong năm 2020 được dự báo sẽ tăng nhẹ 1,6% và sẽ đạt mức tăng 6,7% ngày trong năm 2021. Mặc dù vậy, IMF cũng cảnh báo dịch bệnh đang tiếp tục diễn biến phức tạp trên toàn cầu, và độ chính xác của các dự báo trên phụ thuộc lớn vào cách các nước kiểm soát dịch bệnh cũng như hỗ trợ nền kinh tế trong quá trình hồi phục.

Mỹ đón một số thông tin kinh tế quan trọng, hầu như mang chiều hướng tích cực, trừ thị trường lao động. Đầu tiên, CPI và CPI lõi của nước này cùng tăng 0,2% m/m trong tháng 9 đúng như dự báo của các nhà kinh tế, sau khi cùng tăng 0,4% ở tháng 8 trước đó. Không tính tới yếu tố mùa vụ, CPI nước này tăng 1,4% so với cùng kỳ 2019. Bên cạnh đó, chỉ số PPI lõi và PPI chung tại Mỹ cùng tăng 0,4% m/m trong tháng 9, sau khi lần lượt tăng 0,4% và 0,3% trong tháng 8, vượt qua dự báo cùng tăng ở mức 0,2%. Doanh số bán lẻ lõi và doanh số bán lẻ chung của Mỹ lần lượt tăng 1,5% và 1,9% m/m trong tháng 9, nối tiếp đà tăng 0,5% và 0,6% của tháng 8, đồng thời vượt xa kỳ vọng tăng 0,4% và 0,7% của các chuyên gia.

Ngoài ra, niềm tin tiêu dùng quốc gia này được Đại học Michigan cho biết ở mức 81,2 điểm trong tháng 10, cao hơn mức 80,4 điểm của tháng 9 và mức 80,2 điểm theo dự báo. Tin tiêu cực duy nhất là số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tuần kết thúc ngày 10/10 ở mức 898 nghìn đơn, tăng khá nhiều so với mức 845 nghìn đơn của tuần trước đó, và trái với kỳ vọng giảm xuống còn 810 nghìn đơn.

Anh và Liên minh Châu Âu chưa thể có thỏa thuận, tuy nhiên có thể tiếp tục đàm phán. Cho đến phiên họp cuối cùng vào ngày 15/10, cả hai bên vẫn không thể thông qua các vấn đề phức tạp nhất, trong đó có luật đánh bắt cá và các vấn đề thuộc cạnh tranh công bằng thời kỳ hậu Brexit.

Tuy nhiên, không có thông báo nào về một Brexit không thỏa thuận được đưa ra. Ngược lại, nước Anh cho thấy thiện chí thông báo có thể tham gia đàm phán trong hai tuần kế tiếp. Liên quan đến kinh tế Anh, nước này đón một số tin trái chiều về lĩnh vực lao động. Đầu tiên, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại Anh chỉ ở mức 28,1 nghìn đơn trong tháng 9, thấp hơn nhiều so với 73,7 nghìn của tháng 8 và trái với dự báo tăng lên mức 78,8 nghìn. Thu nhập bình quân của người lao động nước này đi ngang trong tháng 8 (0,0% 3m/y) sau khi chứng kiến mức giảm 1,0% ở tháng 7; tích cực hơn dự báo giảm 0,6%. Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp tại Anh tăng lên mức 4,5% trong tháng 8 từ mức 4,1% của tháng 7, vượt qua dự báo chỉ ở mức 4,3%.

P.L

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.055 23.265 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.085 23.265 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.034 23.264 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.070 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.080 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23.285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.070 23.270 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.080 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.100 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.200
Vàng SJC 5c
55.750
56.220
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.400
54.100