Điểm sáng chính sách tiền tệ

11:16 | 25/10/2018

Không chỉ kiểm soát tốt lạm phát, chính sách tiền tệ còn hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế 9 tháng đạt tới 6,98% - cao nhất trong nhiều năm qua.

'Trước nhiều biến động chúng ta vẫn ổn định được giá trị đồng tiền'
Chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, ưu tiên ổn định
Hiệu ứng tích cực từ chính sách tiền tệ

“Thời gian qua, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ rất linh hoạt và đáp ứng được mục tiêu quan trọng của quốc gia: Vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giải quyết bài toán kiểm soát lạm phát, vừa đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, an toàn hệ thống ngân hàng”, TS. Trần Hoàng Ngân – Đại biểu Quốc hội TP.HCM đã khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên về điều hành chính sách tiền tệ những tháng đầu năm.

Ảnh minh họa

Đó cũng là ghi nhận của nhiều chuyên gia kinh tế khi nói về chính sách tiền tệ. Quả vậy, nói tới chính sách tiền tệ, việc đầu tiên người ta nghĩ tới đó là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền.

Còn nhớ khi bước vào năm 2018, không ít chuyên gia đã cảnh báo về áp lực lạm phát năm nay sẽ lớn hơn rất nhiều so với năm trước do giá cả hàng hóa toàn cầu, đặc biệt là giá dầu thô đang có xu hướng tăng nhanh trở lại; lãi suất tại Mỹ cũng được dự báo sẽ tăng nhanh hơn. Trong khi trong nước, bên cạnh việc giá xăng dầu tăng theo đà tăng của thế giới, thiên tai dịch bệnh cũng đẩy giá lương thực thực phẩm có xu hướng tăng; giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục cũng tiếp tục được điều chỉnh tăng theo lộ trình…

Diễn biến lạm phát những tháng đầu năm đã chứng minh cho những quan ngại này. Thậm chí thời điểm giữa năm, với việc chỉ số giá tiêu dùng tăng mạnh trong tháng 5 và tháng 6 đã làm dấy lên lo ngại lạm phát năm nay sẽ không đạt mục tiêu. Thế nhưng đến hết tháng 9, lạm phát bình quân mới chỉ ở mức 3,57%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 4% mà Quốc hội đề ra. Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV đang diễn ra, Chính phủ cũng tự tin khẳng định lạm phát năm nay sẽ chỉ dưới 4%, có nghĩa sẽ hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 12 chỉ tiêu đề ra.

Trong khi đó, mặc dù chịu nhiều sức ép từ sự tăng giá mạnh của đồng USD trên thị trường thế giới, song thị trường ngoại hối và tỷ giá trong nước cũng cơ bản ổn định. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), diễn biến tỷ giá USD/VND đã có sự gia tăng trong quý, nhưng mức độ dao động còn thấp xa so với cuối năm 2016, cũng như đầu năm 2017 và “nhìn chung, vẫn trong tầm kiểm soát”.

Có được điều đó là nhờ sự điều hành của NHNN Việt Nam đã thay đổi đáng kể. Theo đó, thay vì chỉ sử dụng tỷ giá trung tâm như trước đây, thời gian gần đây NHNN đã kết hợp rất nhiều công cụ của chính sách tiền tệ, đặc biệt là công cụ thị trường mở, thị trường liên ngân hàng để điều tiết thanh khoản, lãi suất tiền đồng, thậm chí bán ngoại tệ để can thiệp nếu cần; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông để củng cố niềm tin của các nhà đầu tư.

“Việc áp dụng các chính sách linh hoạt kết hợp với các hoạt động điều tiết lãi suất VND liên ngân hàng đã giúp giảm áp lực lên tỷ giá, hạn chế tác động của các cú sốc bên ngoài”, ông Nguyễn Anh Dương - Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô của CIEM đánh giá.

Không chỉ kiểm soát tốt lạm phát, chính sách tiền tệ còn hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế 9 tháng đạt tới 6,98% - cao nhất trong nhiều năm qua. Mặc dù tăng trưởng tín dụng những tháng đầu năm có thấp hơn so với cùng kỳ mấy năm gần đây, nhưng do dòng tín dụng được tập trung vào SXKD và các lĩnh vực ưu tiên, tức vào nền kinh tế thực, nên vẫn phát huy được hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế. Bên cạnh đó, nhờ chất lượng tín dụng được nâng cao, nợ xấu được quyết liệt xử lý khiến cho tăng trưởng tín dụng thực chất hơn và hiệu quả hơn.

Một điểm cũng rất đáng ghi nhận nữa là mặc dù mặt bằng lãi suất toàn cầu đang có xu hướng tăng theo đà thắt chặt tiền tệ của Fed, thế nhưng mặt bằng lãi suất trong nước vẫn cơ bản ổn định, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết giảm chi phí nâng cao sức cạnh tranh, qua đó cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Tất cả những thành công đó cũng được các tổ chức quốc tế ghi nhận, thể hiện qua động thái nâng xếp hạng tín nhiệm cho các ngân hàng Việt của Moody’s và Fitch ratings. Hay nói như TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia, một trong những thành công lớn nhất trong điều hành kinh tế vĩ mô 9 tháng qua là điều hành chính sách tiền tệ. Trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá có rất nhiều sức ép, chính sách tiền tệ đã được điều hành ổn định và rất linh hoạt, chủ động và hợp lý.

Minh Trí

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.046 23.276 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.077 23..289 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.400
Vàng SJC 5c
55.950
56.420
Vàng nhẫn 9999
53.600
54.100
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.800