Điều chỉnh tỷ giá: Phải nhìn trên tổng thể nền kinh tế

11:07 | 05/10/2012

Theo ông Lê Quang Trung - Phó tổng giám đốc VIB, việc điều chỉnh tăng phải xét trên tổng thể nền kinh tế nếu không sẽ kéo theo thêm những bất ổn. Đồng USD tác động lên ngay tất cả những sản phẩm nhập khẩu và tác động ngay vào chỉ số giá. Do đó, phải cân đối, không thể tăng chỉ vì lợi cho xuất khẩu mà gây bất lợi cho nền kinh tế.

Có nên điều chỉnh tỷ giá

Theo Báo cáo của NHNN trong tuần 24 - 29/9, tỷ giá giao dịch trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ do các TCTD tích cực mua vào ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Ngày 4/10/2012, giá bán USD các ngân hàng vẫn ở mức 20.910 đồng/USD. Giá mua USD các ngân hàng ở mức 20.850 - 20.870 đồng/USD. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn được giữ ở 20.828 đồng/USD từ ngày 24/12/2011 đến nay.

TS. Trần Du Lịch cho rằng, có thể sức ép tăng tỷ giá vào cuối năm là không nhiều do cán cân thanh toán tốt, dự trữ ngoại hối tiếp tục duy trì ở mức cao…Tuy nhiên, theo ông Lịch, có thể điều chỉnh biên độ ở mức khoảng 2% để tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu. Điều này cũng tránh gây bất lợi cho nền kinh tế. Cùng quan điểm với ông Lịch, một chuyên gia ngân hàng khác cho rằng, việc “neo cứng” tỷ giá trong thời gian quá dài trong khi thị trường quốc tế cũng như trong nước vẫn không ngừng biến động, chắc chắn một bộ phận DN chịu thiệt, nhất là các DN xuất khẩu. Ngoài ra, có thể dòng tiền nóng từ bên ngoài tận dụng "bảo hiểm" tỷ giá của NHNN, sẽ chảy mạnh vào Việt Nam để hưởng chênh lệch lãi suất.


Dự trữ ngoại hối tăng mạnh là cơ sở để tỷ giá ổn định. (Ảnh: ĐK)

Song, ông Lê Quang Trung - Phó tổng giám đốc VIB cho rằng, không nên giảm giá trị VND để “đua” chỉ tiêu xuất khẩu. Đây là phương án không có lợi trong tương lai, nhất là trong bối cảnh việc điều chỉnh tỷ giá sẽ tác động đến nhiều mục tiêu lớn: duy trì vị thế đồng VND, giảm lãi suất để hỗ trợ DN trong bối cảnh kinh doanh nhiều khó khăn. Hơn thế, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ đẩy tâm lý kỳ vọng lên giá USD của người dân, dẫn đến nguy cơ dịch chuyển từ VND sang USD.

Mặt khác việc điều chỉnh tăng phải xét trên tổng thể nền kinh tế nếu không sẽ kéo theo thêm những bất ổn. Ngoài chỉ số giá tiêu dùng, các chỉ số tiền tệ trong đó có tỷ giá ảnh hưởng nhất định đến lạm phát. Bởi đồng USD tác động lên ngay tất cả những sản phẩm nhập khẩu và tác động ngay vào chỉ số giá. Do đó, phải cân đối, không thể tăng chỉ vì lợi cho xuất khẩu mà gây bất lợi cho nền kinh tế.

Vẫn phải đề phòng rủi ro

Bình luận về vấn đề này, ông Đỗ Minh Phú - Chủ tịch HĐQT TienPhongBank cho rằng, ở đây không đặt vấn đề có nên "neo cứng" hay không mà là nhu cầu ngoại tệ có tăng hay không. Vì biến động tỷ giá do cung - cầu thị trường quyết định. Thực tế do thị trường khó khăn, hàng tồn kho lớn, nên DN không muốn đẩy mạnh sản xuất, kéo theo nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu từ đầu năm đến thời điểm này không nhiều.

Là thành phần cũng chịu ảnh hưởng chút ít về việc neo tỷ giá nhưng bản thân các DN cũng không muốn điều chỉnh tỷ giá trong thời điểm này. Ông Cao Tiến Vị - Chủ tịch HĐQT Công ty Giấy Sài Gòn cho biết, đây là thời điểm nhạy cảm nên mọi sự điều chỉnh có thể khiến tình hình kinh tế trở nên phức tạp hơn. Theo ông Vị, nhu cầu ngoại tệ của các DN từ nay đến cuối năm có tăng nhưng không đáng kể. Bản thân DN của ông trong thời điểm này cũng đang rất thận trọng khi lên kế hoạch vay ngoại tệ.

Lãnh đạo một NHTMCP cho biết, tín dụng ngoại tệ của nhiều ngân hàng tăng trưởng thấp, thậm chí có ngân hàng tăng trưởng âm, nên áp lực tỷ giá từ kênh này là không nhiều. Việc tỷ giá tăng nhẹ trong mấy ngày qua được ông Trung nhận định theo chu kỳ mùa kinh doanh quý IV. Nhưng sẽ khó có sự đột biến về nhu cầu ngoại tệ trong quý IV vì tổng cầu suy yếu, sức mua giảm mạnh... Điều này đồng nghĩa với việc cơ hội tăng giá của đồng USD so với VND là không nhiều.

Theo phân tích của một chuyên gia ngân hàng, hiện các DN vẫn thích vay USD do lãi suất tốt hơn vay VND trong khi tỷ giá ổn định. Lãi suất cho vay VND trung bình tại các ngân hàng từ 14% đến 17%/năm, trong khi đó lãi suất cho vay USD chỉ khoảng 6%/năm. Thêm vào đó NHNN đã sớm có thông điệp từ đầu năm là không để tỷ giá biến động quá 3% trong năm 2012 - như một sự đảm bảo cho rủi ro biến động tỷ giá. Do vậy, vẫn có hiện tượng các DN không có nhu cầu thực sự, nhưng vẫn vay USD rồi bán lấy VND hưởng chênh lệch về lãi suất. Song, điều này khá rủi ro đối với DN không có nguồn thu ngoại tệ ổn định.

Ông Lê Quang Trung khuyến nghị, trong bối cảnh thị trường còn nhiều bất ổn thì mỗi DN nên xác định "khẩu vị rủi ro" cho riêng mình không nên sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính như trước đây. Nếu thực sự quan ngại rủi ro tỷ giá thì trong chiến lược kinh doanh, DN chấp nhận lãi ít, trích một phần chi phí để bảo hiểm rủi ro.

Thanh Huyền

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250