Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả

13:58 | 05/08/2022

Trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, thách thức, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh trong điều hành thời gian tới, phải luôn chủ động, khoa học, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2022 vừa qua, các báo cáo và ý kiến thành viên Chính phủ đều nhận định, tình hình kinh tế, xã hội tháng 7 và 7 tháng tiếp tục khởi sắc, đạt kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Những thành quả nổi bật và dễ nhận thấy nhất là kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; thị trường tài chính, tiền tệ cơ bản ổn định với mặt bằng lãi suất, tỷ giá duy trì hợp lý; các cân đối lớn được bảo đảm. Trong khi đó, các động lực tăng trưởng chính vẫn được duy trì; sản xuất công nghiệp tiếp tục đà phục hồi mạnh mẽ; sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ổn định; và đặc biệt là thương mại, dịch vụ sôi động, phục hồi nhanh ở tất cả các ngành (tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ 7 tháng tăng 16%; xuất, nhập khẩu 7 tháng đạt gần 432 tỷ USD, tăng 14,8%; khách quốc tế 7 tháng đạt gần 1 triệu lượt, gấp 10 lần cùng kỳ năm ngoái...).

dieu hanh chu dong linh hoat hieu qua
Sản xuất phục hồi nhanh trên nhiều lĩnh vực

Đà phục hồi nhanh và khởi sắc trên nhiều lĩnh vực cũng phần nào được thể hiện và phản ánh ở sự thích ứng tốt của cộng đồng DN, với số lượng DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 7 tháng qua là 133,7 nghìn DN, gấp 1,4 lần số DN rời khỏi thị trường. Bên cạnh đó, vốn FDI thực hiện 7 tháng đạt 11,57 tỷ USD tăng 10,2%, cao nhất từ 2018 đến nay và vốn đăng ký điều chỉnh tăng thêm 7,24 tỷ USD, tăng 59,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tất cả cho thấy niềm tin gia tăng và điều này tạo ra những năng lực mới quan trọng cho tăng trưởng kinh tế năm 2022.

Trong khi đó về Chương trình phục hồi và phát triển, đến nay đã có 14/17 văn bản được ban hành, cơ bản tạo khuôn khổ pháp lý và hướng dẫn để sớm đưa các chính sách vào thực tiễn; nhiều nội dung lần đầu tiên triển khai nhưng đã được nhanh chóng xây dựng, đánh giá tác động và ban hành theo đúng quy định. Việc giải ngân các chính sách thuộc Chương trình đạt kết quả tốt, thống kê sơ bộ đạt khoảng 48 nghìn tỷ đồng/301 nghìn tỷ đồng và dự kiến sẽ tăng nhanh trong những tháng tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các thành viên Chính phủ cho rằng, nền kinh tế đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nổi lên là áp lực lạm phát. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp khó khăn, nhất là do giá nhiều nguyên vật liệu đầu vào tăng cao.

Bên cạnh đó, việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, giải ngân vốn đầu tư công 7 tháng đầu năm 2022 mới đạt 34,47% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó còn tới 41/51 bộ, cơ quan Trung ương và 18/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới mức trung bình cả nước. Ngoài ra, nhiều khó khăn và thách thức cần hóa giải như: Số ca mắc Covid-19 tăng do sự xuất hiện của biến chủng mới; tình trạng thiếu thuốc điều trị, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế ở một số bệnh viện, địa phương chưa được xử lý dứt điểm; thiên tai diễn biến phức tạp; đời sống một bộ phận người dân còn gặp nhiều khó khăn…

Trong bối cảnh thách thức và thuận lợi đan xen, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tinh thần chung là phải bình tĩnh, chủ động, linh hoạt, bám sát tình hình để lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, khoa học, có hiệu quả, đề ra các chính sách khả thi, phù hợp với bối cảnh tình hình; gắn liền với phát huy tinh thần đoàn kết, nêu cao trách nhiệm người đứng đầu, tập thể lãnh đạo, vì nhân dân phục vụ.

Trên tinh thần đó, Thủ tướng yêu cầu tập trung thực hiện “4 ổn định”, gồm: Ổn định kinh tế vĩ mô; Ổn định các loại thị trường, nhất là ổn định giá cả hàng hóa, thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản...; Ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; Ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh đến việc tiếp tục thực hiện nhất quán mục tiêu ưu tiên giữ vững nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, thúc đẩy tăng trưởng, phục hồi và phát triển bền vững các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Đồng thời, có các giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát triển DN và tạo công ăn việc làm cho người dân gắn liền với phòng chống tham nhũng tiêu cực để bảo đảm nguồn lực không bị thất thoát. Tập trung đẩy mạnh thực hiện Chương trình phục hồi, giải ngân vốn đầu tư công và các chương trình mục tiêu quốc gia. Được biết, để thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tới đây Chính phủ sẽ tiếp tục ban hành một Nghị quyết nữa về vấn đề này, qua đó xác định rõ đây là nhiệm vụ then chốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như đề cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.266 23.821 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.244 23.535 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.225 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.300
Vàng SJC 5c
66.300
67.320
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000