Điều hành nhất quán, tăng niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp

08:42 | 25/12/2019

“Chúng tôi khẳng định hiện nay hệ thống ngân hàng có đầy đủ nguồn vốn và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn của DN. Các DN gặp khó khăn luôn được hệ thống ngân hàng đồng hành và chia sẻ. Đồng thời trong quá trình kinh doanh gặp khó khăn cũng vẫn được các TCTD hỗ trợ”, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng chia sẻ tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp mặt DN với chủ đề “Phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp – Hội nhập, hiệu quả, bền vững” hôm đầu tuần. 

Doanh nghiệp Việt vẫn “bình chân như vại” trước chuyển đổi số
Thống đốc NHNN: Ngành Ngân hàng đã đáp ứng và tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp
Kỳ vọng có thêm nhiều DN quy mô lớn 

3 điểm nhấn hỗ trợ DN, cải thiện môi trường đầu tư 

Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết, trong năm 2019, công tác điều hành chính sách của ngành Ngân hàng hỗ trợ cộng đồng DN được thể hiện rõ nét ở 3 điểm nhấn chính. Điểm nhấn đầu tiên là việc hoạch định và thực thi, điều hành của NHNN và hệ thống ngân hàng đã góp phần ổn định lãi suất và tỷ giá, tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. “Đây là yếu tố thành công lớn nhất thời gian vừa qua, thể hiện sự nhất quán trong điều hành và tăng niềm tin của thị trường và cộng đồng DN vào năng lực thực thi, điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá của NHNN”, Thống đốc Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

Kết quả đó được thể hiện rõ ở các chỉ số vĩ mô, đặc biệt là lạm phát được kiểm soát rất thấp, trong đó lạm phát cơ bản biến động trong biên độ từ 1,4% đến dưới 2%. Trong điều hành tỷ giá và thị trường ngoại tệ, NHNN đã rất linh hoạt, chủ động, theo sát và dự báo được các diễn biến, tác động của thị trường tài chính quốc tế và khu vực. Nhờ đó giữ được ổn định tỷ giá, đảm bảo cân đối cung cầu ngoại tệ, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu ngoại tệ của DN, hỗ trợ cho xuất khẩu. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng ở mức kỷ lục, gấp trên 2,5 lần so với cuối năm 2015. “Đây là một tấm đệm rất lớn cho quốc gia để dự phòng những tác động, những yếu tố bất lợi từ bên ngoài tác động vào nền kinh tế của chúng ta”, Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết.

Điểm nhấn thứ hai là điều hành lãi suất và đảm bảo nguồn cung vốn cho DN. Theo đó, mặc dù thời gian qua trên thị trường quốc tế cũng như các nước khu vực có biến động và sức ép tăng lãi suất, nhưng NHNN đã kiểm soát và giữ ổn định được mặt bằng lãi suất cho vay. Đặc biệt thời điểm cuối năm là mùa kinh doanh của các DN, lãi suất cho vay của các ngân hàng đã giảm rất đáng kể; riêng trần lãi suất trong 5 lĩnh vực ưu tiên chỉ còn 6%/năm.

Bên cạnh đó, NHNN cũng tập trung rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý để tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế được vay vốn theo năng lực tài chính, đa dạng hoá các kênh tiếp cận tín dụng; chỉ đạo triển khai các biện pháp cải cách thủ tục hành chính không chỉ trong nội bộ hệ thống NHNN mà trong cả các TCTD để đổi mới quy trình, đơn giản hoá thủ tục cho vay. Đồng thời chỉ đạo các TCTD tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là 5 lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ. 

Đặc biệt hiện nay vốn trung, dài hạn của nền kinh tế vẫn phải dựa vào hệ thống ngân hàng, trong khi huy động của các TCTD chủ yếu là ngắn hạn, xấp xỉ 80% tổng vốn huy động. Tuy nhiên bên cạnh việc quản trị rủi ro, các TCTD vẫn đảm bảo cung ứng vốn trung, dài hạn, chiếm xấp xỉ 50% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Đồng thời, nguồn lực tín dụng rất lớn đã tập trung cho cộng đồng DN, đặc biệt là DN tư nhân và các hộ kinh doanh. Trong đó, khối DN tư nhân chiếm khoảng 43% tổng dư nợ tín dụng, hộ kinh doanh và cá nhân chiếm khoảng 45,7%. 

Điểm nhấn thứ 3 là NHNN cũng tích cực hỗ trợ các DN phát triển công nghệ trong các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực thanh toán. Vấn đề ví điện tử, tiền di động, chuyển mạch điện tử, quét mã QR code, các vấn đề an ninh an toàn… được các TCTD ứng dụng và đẩy mạnh. Vì vậy các giao dịch qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đạt bình quân gần 375.000 tỷ đồng/ngày (gần 17 tỷ USD/ngày). Bên cạnh đó, giao dịch qua POS xấp xỉ 500.000 tỷ đồng/năm, qua điện thoại di động 4,2 triệu tỷ đồng/năm và internet khoảng 17 triệu tỷ đồng/năm, cả quy mô và tỷ trọng tăng rất nhanh thời gian qua. 

Các kết quả ấn tượng trong công tác điều hành của NHNN đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Vừa qua Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poors sau 9 năm đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Ngân hàng Thế giới (WB) đã nâng chỉ số xếp hạng tín dụng của Việt Nam lên 7 bậc so với năm 2018, đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN, và thứ 25/190 quốc gia. Những kết quả này đã nêu bật được hiệu quả trong công tác điều hành của Chính phủ cũng như NHNN. 

Tự tin đặt mục tiêu lớn hơn cho giai đoạn tới

Những nỗ lực của ngành Ngân hàng đã góp phần vào thắng lợi chung của nền kinh tế trong năm 2019, đặc biệt như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đến giờ này có thể chốt lại là tăng trưởng kinh tế năm 2019 sẽ đạt mức trên 7%. Con số này đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất toàn cầu. Đáng nói hơn nữa là tốc độ tăng trưởng nhanh đó có được trên một nền tảng kinh tế vĩ mỗ ổn định, lạm phát thấp và tỷ giá ổn định, dữ trữ ngoại hối đạt mức cao chưa từng có.

Tuy nhiên, người đứng đầu Chính phủ cũng lưu ý rằng sự phát triển của cộng đồng DN trong nước vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại thể hiện ở tỷ lệ và quy mô DN. Nếu so với nhiều nước phát triển, tỷ lệ DN trên quy mô dân số của chúng ta vẫn còn thấp (120 người dân mới có 1 DN; trong khi các nước ASEAN là 90 người dân, còn các nước phát triển thì cứ 10 người dân có 1 DN). Chúng ta mới có 7 DN trong tốp 200 DN tốt nhất châu Á có doanh thu dưới 1 tỷ USD. Đến nay, chúng ta chưa có DN nào vào tốp 500 DN lớn nhất thế giới.

Để khắc phục những hạn chế này, Thủ tướng yêu cầu mỗi bộ, ngành khẩn trương xây dựng một chương trình hành động, nhằm thực hiện các cam kết hỗ trợ cộng đồng DN trong năm 2020 tầm nhìn 2025. Các bộ, ngành tiếp tục có những chính sách cởi mở hơn, thực sự cởi trói, ủng hộ để DN bứt phá, DN tư nhân tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực, các ngành mà trước đây chỉ có Nhà nước đảm trách, ngoại trừ những lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến an ninh, quốc phòng và điều hành vĩ mô thì Nhà nước phải tiếp tục nắm. “Không phải cái khó đẩy cho tư nhân mà cái gì tư nhân làm được nên ủng hộ", Thủ tướng nêu rõ.

Chính phủ cũng tiếp tục thực hiện nhất quán và triệt để trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tập trung vào những khâu còn yếu mà UNDP, WB và hội nghị này đã chỉ ra; Tiếp tục giảm đáng kể danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đơn giản hóa các quy định về điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm để cải thiện mạnh mẽ, rõ nét chỉ số phá sản DN và giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Đặc biệt, cần chấm dứt ngay tình trạng các nhân viên công quyền sử dụng quyền lực mềm để hù dọa mỗi khi DN có sai sót hay chỉ là bất đồng. “Các cơ quan quản lý Nhà nước phải loại đi những cán bộ nhũng nhiễu phiền hà, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh do tham nhũng tiêu cực hoặc do trình độ yếu kém để kéo dài thời gian, làm mất thời gian, cơ hội đầu tư của DN”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Song song với đó cần rà soát và thiết lập cơ chế ưu đãi tài chính tốt hơn, khuyến khích DN áp dụng các mô hình kinh doanh bền vững, bao trùm như ứng dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, sản xuất thông minh, bảo vệ môi trường, khuyến khích các DN FDI và cả DN nội địa liên kết với nhau trong hình thành chuỗi giá trị…

Thủ tướng mong muốn với những thành quả quan trọng về kinh tế-xã hội đạt được trong năm 2019 và khí thế mới 2020, cộng đồng DN Việt Nam tự tin đặt mục tiêu lớn hơn trong năm 2020, dám đặt tầm nhìn và nuôi dưỡng khát vọng lớn hơn trong giai đoạn tới.

Ngọc Khanh  

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.090 23.270 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.081 23..291 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.170
50.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.170
50.530
Vàng SJC 5c
50.170
50.550
Vàng nhẫn 9999
49.840
50.390
Vàng nữ trang 9999
49.540
50.290