Định hình những người thực tài và có đức

11:16 | 06/09/2019

Niên khóa 2019-2020 là năm “bản lề”, bước chuyển để đưa chương trình giáo dục phổ thông mới đi vào cuộc sống

Ngày 5/9, hơn 23 triệu học sinh trong cả nước bước vào năm học mới 2019-2020. Trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có công văn gửi sở GD&ĐT các tỉnh, thành, trong đó thống nhất tổ chức lễ khai giảng năm học 2019-2020 trên cả nước vào buổi sáng 5/9 và yêu cầu các cơ sở giáo dục ổn định và duy trì nền nếp học tập ngay sau lễ khai giảng; ban hành kế hoạch giáo dục nhà trường trong cả năm học.

Ảnh minh họa

Trên thực tế, từ ngày 19/8, học sinh trên cả nước bắt đầu tựu trường bước vào năm học mới. Việc ngành giáo dục tựu trường sớm, học trước, khai giảng sau, ý nghĩa của khai giảng chỉ còn là hình thức. Về điều này, Bộ GD&ĐT đang tính đến hợp nhất ngày tựu trường với ngày khai giảng, tạo không khí thực sự tươi mới của ngày tựu trường.

Đặc biệt, niên khóa 2019-2020 là năm “bản lề”, bước chuyển để đưa chương trình giáo dục phổ thông mới đi vào cuộc sống, Bộ GD&ĐT đang tập trung hoàn thiện 2 việc: biên soạn sách giáo khoa và tập huấn cho tất cả giáo viên. Điểm mới đầu tiên là bộ chủ trương biến quá trình bồi dưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng của giáo viên. Theo đó, tất cả tài liệu và các bài giảng minh họa sẽ được đưa lên mạng để các giáo viên có thể tự học qua mạng trong khoảng 1 tháng. Sau đó sẽ có những buổi gặp gỡ trực tiếp các giảng viên cốt cán để được giải đáp những vướng mắc, khó khăn mà giáo viên gặp phải; sẽ làm một bài kiểm tra, đánh giá sau khóa tập huấn, bồi dưỡng để cấp giấy chứng nhận đã hoàn thành chương trình tập huấn, bồi dưỡng theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

Liên quan đến việc chuẩn bị triển khai chương trình mới này, bắt đầu từ năm 2020-2021 từ lớp 1, theo chia sẻ của ông Thái Văn Tài - Quyền Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD&ĐT), hiện toàn ngành có gần 400.000 giáo viên tiểu học, đạt tỷ lệ bình quân giáo viên trên lớp là 1,4 giáo viên/lớp. Nhằm đáp ứng theo quy định mới thì với những trường dạy học 2 buổi/ngày, 1 phòng/1 lớp phải đảm bảo bố trí 1,5 giáo viên/lớp.

Do đó, đối với những địa phương hiện nay chưa bố trí đủ giáo viên theo định mức 1,5 giáo viên/lớp thì tiến hành triển khai các đề án, kế hoạch tuyển dụng. Song khi tuyển dụng cần lưu ý phải cơ cấu đủ số giáo viên dạy các môn học chuyên biệt như tin học, ngoại ngữ, âm nhạc, mỹ thuật, thể dục… Và bộ đang nghiên cứu đề xuất chính sách phù hợp nhằm tránh thiệt thòi cho cả giáo viên và cán bộ quản lý nếu phải làm thêm giờ, thêm việc khi mà đổi mới giáo dục có những yêu cầu cao hơn, dạy học phát triển năng lực học sinh đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị rất kỹ trước khi lên lớp. Bởi đối tượng và mục tiêu thay đổi thì giáo viên cũng phải thay đổi theo.

Mặt khác, theo Luật Giáo dục (sửa đổi) thì chuẩn giáo viên sắp tới phải là trình độ đại học. Theo thống kê đánh giá trên 60% số giáo viên hiện nay có trình độ đào tạo đại học trở lên, đa số có thời gian công tác từ 5 năm trở lên. Xấp xỉ 35% số giáo viên còn lại chưa đạt chuẩn nên phải tăng cơ hội để họ được học tập, bồi dưỡng, ông Tài cho biết.

Với tinh thần - ở đâu có học sinh, ở đó phải có đủ giáo viên, Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ đã báo cáo với Bộ Chính trị về việc cho phép tuyển dụng thêm 23.000 giáo viên dựa trên đề xuất cụ thể của từng địa phương. Và việc biên soạn sách giáo khoa cũng phải tuân thủ mục tiêu cuối cùng là phải có đủ sách giáo khoa của từng cấp học, môn học đạt chuẩn khi thực hiện chương trình mới. Đặc biệt, trong thành phần của thành phần Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa phải có ít nhất 1/3 thành viên là giáo viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại các trường tiểu học trên cả nước, đại diện cho cả vùng thuận lợi lẫn khó khăn để cùng thảo luận và tìm được tiếng nói chung trong việc chọn sách giáo khoa sát với thực tế, tránh trường hợp vùng thuận lợi chọn sách giáo khoa cho học sinh vùng khó khăn và ngược lại.

Hiện đã có 5 bản thảo bộ sách giáo khoa cho lớp 1 gửi Hội đồng quốc gia thẩm định mà không phải dùng đến ngân sách Nhà nước. Đánh giá sơ bộ từ Hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa, đa số bộ sách giáo khoa có đầy đủ môn học, môn học ít nhất có 4 sách, được thể hiện đa dạng, bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới. Đội ngũ viết sách là những nhà khoa học uy tín, năng lực chuyên môn đã được khẳng định qua thực tiễn nhiều năm, ông Tài chia sẻ.

Dự kiến đầu tháng 10/2019, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT sẽ công bố những sách, bộ sách giáo khoa đạt chuẩn dựa trên đánh giá của hội đồng thẩm định. Trên cơ sở đó, UBND cấp tỉnh sẽ quyết định việc lựa chọn sách giáo khoa để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và sử dụng ổn định trong các cơ sở giáo dục phổ thông tại địa phương mình bắt đầu thực hiện từ năm học 2020-2021 với lớp 1.

Đây cũng là những quy định tại Nghị quyết 88 năm 2014 của Quốc hội khóa 13: học sinh cả nước thực hiện một chương trình giáo dục phổ thông, có một số sách giáo khoa cho mỗi môn học. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm về chất lượng và quyết định ban hành sách giáo khoa. Điều này được thể hiện trong Luật Giáo dục (sửa đổi), được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2019.

Bảo Anh

Nguồn:

Tags: Giáo dục

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
46.700
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
46.700
47.900
Vàng SJC 5c
46.700
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.200
45.400
Vàng nữ trang 9999
43.900
45.200