Dòng tiền lớn đổ vào, có phải là tín hiệu giúp thị trường ấm lại?

18:35 | 07/04/2020

Với sự hỗ trợ tích cực từ thị trường thế giới, thị trường chứng khoán trong nước tiếp tục đà tăng phiên thứ 5 liên tiếp. VN-Index tăng điểm nhờ nhóm bluechips bứt phá và thanh khoản bùng nổ.

Kết thúc phiên giao dịch ngày 7/4, VN-Index tăng 9,94 điểm (1,35%) lên 746,69 điểm. Khối lượng giao dịch trong phiên đạt gần 293 triệu đơn vị với giá trị 4.776 tỷ đồng. Toàn sàn có  200 mã tăng, 153 mã giảm và 68 mã đứng giá.

Trên sàn Hà Nội, HNX-Index tăng 0,17 điểm (0,16%) lên 103,43 điểm. Khối lượng giao dịch trong phiên đạt 68,206 triệu đơn vị với giá trị tương ứng 665 tỷ đồng. Toàn sàn có 68 mã tăng, 72 mã giảm và 50 mã đứng giá.

Còn trên UPCoM, UPCoM-Index tăng 0,1 điểm (0,2%) lên 50,43 điểm. Khối lượng giao dịch đạt hơn 14,8 triệu đơn vị với giá trị tương ứng 197 tỷ đồng. Toàn sàn có 105 mã tăng, 88 mã giảm và 50 mã đứng giá.

do ng tie n lo n do va o co phai la ti n hie u giup thi truo ng kho e lai
Biểu đồ chỉ số VN-Index ngày 7/4

Điểm nhấn đáng chú ý trong phiên hôm nay là về cuối phiên, các cổ phiếu bluechips giao dịch khởi sắc giúp thị trường duy trì đà tăng điểm. Bộ đôi VHM, VRE tăng kịch biên độ, MWG đóng cửa sát giá trần. Các cổ phiếu hàng tiêu dùng như VNM, SAB, MSN cũng bứt phá về cuối phiên.

Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng cũng dần lấy lại vai trò tích cực, điển hình VCB đảo chiều tăng 0,3%; VPB cũng bật tăng 3,7%. Trong khi đó, nhóm dầu khí cũng tiếp tục sôi động với nhiều mã tăng mạnh như PVD, PVB, PXS, PVS, PVC.

Tuy nhiên, khối ngoại vẫn tiếp tục chuỗi ngày bán ròng. Trên HoSE, khối này bán ròng với khối lượng 13,63 triệu đơn vị với giá trị bán ròng tương ứng 364,626 tỷ đồng. Trên HNX, khối ngoại cũng bán ròng 127 triệu đơn vị với giá trị tương ứng 2,743 tỷ đồng. Còn trên UPCoM, khối ngoại bán ròng 1,8 triệu đơn vị với giá trị 26,487 tỷ đồng. 

Phân tích diễn biến trong phiên, các chuyên gia chứng khoán cho biết VN-Index tăng 9,94 điểm lên 746,69 điểm, trong đó chỉ số VN30 tăng 10,96 điểm lên 693,61 điểm, điều này cho thấy độ rộng thị trường khá tích cực.

Toàn thị trường có 201 mã tăng/153 mã giảm, ở rổ VN30 có 16 mã tăng, 10 mã giảm và 4 mã giữ tham chiếu. Thanh khoản thị trường tiếp tục bùng nổ với giá trị khớp lệnh đạt hơn 4.122 tỷ đồng. Giao dịch khối ngoại vẫn diễn biến không mấy tích cực khi tiếp tục bán ròng với tổng giá trị gần 400 tỷ đồng trên toàn thị trường.

Phiên giao dịch ngày 7/4 là phiên tăng thứ 5 liên tiếp đã giúp thị trường tiệm cận mốc 750 điểm, nhịp rung lắc đã xuất hiện ngay trong phiên sáng nhưng thị trường nhanh chóng đảo chiều nhờ dòng tiền lớn tiếp tục đổ vào, tín hiệu cho thấy thị trường bắt đầu ấm lại.

“Về kỹ thuật, thị trường đang trong quá trình hoàn thiện mô hình 2 đáy nhỏ ở ngưỡng hỗ trợ 650 điểm với mục tiêu hướng tới vùng 755 điểm đến 783 điểm. Trong quá trình đi lên sẽ xuất hiện những nhịp rung lắc ở khu vực 750 điểm, quán tính tăng sẽ giảm dần và nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn vẫn tiếp tục là địa chỉ của dòng tiền”, Công ty CP Chứng khoán MBS nhận định.

Công ty CP Chứng khoán BSC thì cho rằng VN-Index hồi phục từ đáy ngắn hạn, nhịp rung lắc sẽ còn diễn ra trong tuần. Nhìn lại tuần qua, các cổ phiếu chủ chốt sau nhịp bán quá đã hỗ trợ VN-Index tăng nhẹ 0,5%. 5/19 ngành tăng điểm nhưng số cổ phiếu tăng điểm đã cải thiện lên 168 cổ phiếu so với 192 cổ phiếu giảm. Mức giảm quanh 30% trong hơn 2 tháng của hầu hết các cổ phiếu trong rổ VN30 đã kích thích hoạt động bắt đáy sau nhịp rung lắc diễn ra vào đầu tuần trước. Các thị trường chủ chốt giao dịch giằng co, khối ngoại cũng đã giảm giá trị bán ròng tạo điều kiện cho chỉ số hồi phục.

Cùng với đó, sự ổn định của tỷ giá và thông tin gói hỗ trợ tài khóa dự kiến gần 36 nghìn tỷ trực tiếp cho người lao động bị hưởng dịch cũng góp phần ổn định tâm lý nhà đầu tư. VN-Index vẫn trong vùng biến động mạnh và chưa thoát khỏi xu hướng giảm điểm do vậy những phiên rung lắc còn có thể tiếp tục diễn ra trong quá trình tích lũy tại vùng đáy ngắn hạn trong tuần.

“VN30 tạo nến hồi phục hammer từ vùng giá thấp và chưa thể vượt 673 điểm Fibonacci 61,8% của chu kỳ dài hạn. Nhịp hồi kỹ thuật đang diễn ra và ngưỡng kháng cự 673 điểm cần tiếp tục theo dõi để xác nhận xu hướng tiếp theo. Trong ngắn hạn, VN-Index vẫn trong quá trình dò đáy, tín hiệu hồi phục chưa rõ ràng. Nhà đầu tư nên tiếp tục chờ đợi và duy trì tỷ lệ cổ phiếu ở mức an toàn. Đối với đầu tư trung dài hạn, nhà đầu tư tiếp tục giữ tỷ trọng, theo dõi vận động của dòng tiền và chỉ số”, BSC khuyến nghị.

Trần Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.200 23.410 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.230 23.410 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.213 23.403 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.215 23.425 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.198 23.398 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.230 23.400 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.260 23.390 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.340
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.340
48.750
Vàng SJC 5c
48.340
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.480
48.180
Vàng nữ trang 9999
47.180
47.980