Doanh nghiệp cần hỗ trợ đồng bộ

09:48 | 26/02/2020

Để hỗ trợ các doanh nghiệp hạn chế thiệt hại do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, ngành Ngân hàng đã và đang có những chuẩn bị cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp...

doanh nghiep can ho tro dong bo Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
doanh nghiep can ho tro dong bo BIDV hỗ trợ gói tín dụng cho DN bị ảnh hưởng bởi Covid-19
doanh nghiep can ho tro dong bo
Các TCTD phải chủ động rà soát và tự chịu trách nhiệm về quyết định gia hạn nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng dịch Covid-19

Cơ cấu lại một lần cho DN

Ngày 24/2, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam ban hành văn bản số 1117/NHNN-TD về việc triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng do ảnh hưởng của dịch Covid – 19, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của hệ thống các TCTD.

Theo đó, văn bản yêu cầu các TCTD đánh giá mức độ thiệt hại, ảnh hưởng của khách hàng đang vay vốn do dịch Covid - 19 để xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, tạm thời giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng đối với các khoản nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và có dư nợ gốc và hoặc lãi đến kỳ hạn trả nợ trong khoảng thời gian từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/3/2020, cho đến khi NHNN ban hành Thông tư hướng dẫn. Đồng thời các TCTD cho vay mới đối với khách hàng theo quy định để ổn định sản xuất kinh doanh.

Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ được thực hiện trên cơ sở đề nghị của khách hàng và đánh giá của TCTD về mức độ thiệt hại, ảnh hưởng, khả năng tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng sau khi được cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Qua đó, TCTD phải có hướng dẫn triển khai những tiêu chí xác định khoản nợ bị ảnh hưởng bởi dịch Covid – 19; nội dung kiểm tra, kiểm soát, giám sát đối với các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ để thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống. 

TCTD chủ động, tự quyết định và chịu trách nhiệm về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, tạm thời giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đảm bảo chặt chẽ, an toàn, đúng đối tượng; phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng cơ chế để phản ánh sai lệch chất lượng tín dụng. Theo đó, báo cáo NHNN kết quả thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, tạm thời giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới theo quy định đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 vào ngày 15/03/2020 và ngày 31/03/2020. 

Theo thống kê của Hiệp hội Chế biến xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) trong tháng 1/2020, mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 12,5% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, do yếu tố mùa vụ, đến khoảng đầu tháng 4/2020 các đơn hàng nhập thủy sản của Trung Quốc mới bắt đầu tăng lên. Do đó thời điểm này chỉ có một số DN còn tồn đơn hàng từ năm ngoái mới bị ảnh hưởng, do đội giá chi phí lưu bãi và tồn kho đông lạnh. 

Ông Trương Đình Hòe - Tổng Thư ký Vasep cho rằng, nếu dịch Covid-19 được khống chế vào cuối quý 1/2020, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy sản sang Trung Quốc sẽ đạt mức khoảng 265 triệu USD, giảm 40% so với quý trước, nhưng vẫn tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu các quý tiếp theo, hoạt động xuất khẩu phục hồi thì cả năm 2020 giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường Trung Quốc vẫn có thể đạt 9,25 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 8%. 

Trong khi đó, ông Đỗ Hà Nam - Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho rằng, năm nay lượng hạn ngạch xuất khẩu gạo sang Trung Quốc chỉ ở mức 400.000 tấn, bằng với năm 2019 nên dù dịch Covid-19 có diễn biến xấu thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến DN xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Đặc biệt, hiện nay nhiều DN xuất khẩu gạo đã giảm bớt số lượng đơn hàng đi Trung Quốc. Theo đó, các công ty có lượng gạo xuất khẩu lớn đi Trung Quốc các năm trước đây ở tỉnh Tiền Giang và một số DN tại Cần Thơ, Kiên Giang đã giảm từ 20-30% đơn hàng, thậm chí có DN giảm đến 90% đơn hàng đi thị trường này. 

Ngoài ra, trong năm nay, do Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã được ký kết nên các DN có thêm hạn ngạch khoảng 40.000 tấn vào thị trường châu Âu. Các thỏa thuận song phương với Hàn Quốc hiện cũng mang về hạn ngạch xuất khẩu trên 55.000 tấn gạo vào thị trường này. Vì thế lực tiêu thụ sẽ giảm đáng kể khi rộ vụ thu hoạch lúa đông xuân 2019-2020 vào tháng tới.

Cần hỗ trợ thủ tục và thuế, phí 

Theo một số DN xuất khẩu đang có hoạt động giao dịch trực tiếp tại các cửa khẩu phía Bắc, đến thời điểm hiện nay, do dịch Covid-19 bùng phát khiến Trung Quốc kéo dài kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên các mẫu hồ sơ hải quan (chẳng hạn bảng C/O mẫu E) không được gửi đến DN kịp thời, khiến các DN không nộp được hồ sơ ưu đãi thuế. Ngoài ra, việc Trung Quốc chưa áp dụng lại chính sách 8.000 Nhân dân tệ/người/ngày nên hoạt động giao thương tiểu ngạch đang diễn biến chậm. 

Ở góc độ liên quan đến giá xuất khẩu và hoạt động thanh toán ở khu vực biên giới, một DN thiết bị điện tử, thiết bị chiếu sáng tại Bình Dương cho rằng, đến thời điểm này chưa có nhiều biến động. Chi phí lưu kho, chờ các thủ tục hoàn thuế mặc dù đội lên ở một số đơn vị nhưng do cước phí vận tải biển đang có chiều hướng giảm nhẹ (vì nhu cầu vận chuyển thấp) nên các DN có thể cân đối được. Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu qua các tài khoản ngân hàng vẫn chưa xuất hiện khó khăn đáng kể ngoài việc một số đơn hàng bị chậm thanh toán do lịch nghỉ tết tại Trung Quốc kéo dài trong tháng 2.

Để hỗ trợ các DN hạn chế thiệt hại do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, ngành Ngân hàng đã và đang có những chuẩn bị cụ thể hỗ trợ DN. Tuy nhiên, các DN gặp khó khăn bởi ảnh hưởng dịch Covid-19 cũng đang ngóng chờ chính sách hỗ trợ miễn, giảm các loại thuế, phí và giải tỏa các vướng mắc về thủ tục xuất nhập khẩu.

Bộ Công thương cũng đã có văn bản gửi các Bộ Giao thông - Vận tải và Bộ Tài chính đề nghị rà soát các loại thuế, phí và triển khai các giải pháp hỗ trợ giảm chi phí vận tải như: giảm giá BOT, phí cầu đường, bến bãi, phí lưu giữ phương tiện, thuế với nhiên liệu bay...  

Nhưng các DN xuất nhập khẩu ở khu vực ĐBSCL hiện nay chưa có DN nào nhận được văn bản hướng dẫn hỗ trợ từ các cơ quan ngành thuế và ngành giao thông, ngoài một số DN trong lĩnh vực trang thiết bị y tế đã được áp dụng miễn thuế nhập khẩu đối với các nhóm hàng phục vụ phòng chống dịch.

Để hỗ trợ các DN hạn chế thiệt hại do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, ngành Ngân hàng đã và đang có những chuẩn bị cụ thể hỗ trợ DN. Tuy nhiên, các DN gặp khó khăn bởi ảnh hưởng dịch Covid-19 cũng đang ngóng chờ chính sách hỗ trợ miễn, giảm các loại thuế, phí và giải tỏa các vướng mắc về thủ tục xuất nhập khẩu. Bộ Công thương cũng đã có văn bản gửi các Bộ Giao thông - Vận tải và Bộ Tài chính đề nghị rà soát các loại thuế, phí và triển khai các giải pháp hỗ trợ giảm chi phí vận tải

Thạch Bình 

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.400 23.610 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.430 23.610 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.411 23.601 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.418 23.630 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.418 23.618 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.430 23.600 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.460 23.600 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.050
Vàng SJC 5c
47.200
48.050
Vàng nhẫn 9999
44.800
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.400