Doanh nghiệp Nhật lựa chọn mở rộng kinh doanh tại Việt Nam

13:48 | 09/02/2021

Tỷ lệ doanh nghiệp có lãi giảm trong năm 2020 do tác động của COVID-19 nhưng vẫn cao hơn mức trung bình chung của các khu vực được khảo sát.

Kỳ vọng lợi nhuận cải thiện trong năm 2021

Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp Nhật đầu tư tại nước ngoài năm tài chính 2020 mà Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) vừa công bố phần về Việt Nam cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp dự báo có lãi trong hoạt động kinh doanh năm 2020 là 49,6%, giảm 16,2% so với mức 65,8% của khảo sát năm 2019.

Đáng chú ý, có sự khác biệt về tỷ lệ lợi nhuận giữa các loại hình doanh nghiệp bán hàng nội địa và xuất khẩu. Trong đó, tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp bán hàng nội địa (doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu dưới 50%) là 47,0% (giảm 17,7% so với khảo sát năm 2019), tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu (doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu trên 50%) là 53% (giảm 13,5%).

Bên cạnh đó, tỷ lệ các doanh nghiệp “cân bằng ” (mức hòa vốn) là 20,3%. Tỷ lệ doanh nghiệp bị lỗ là 30,1%, tăng 9,9% so với khảo sát năm 2019.

khao sat cua jetro doanh nghiep nhat lua chon mo rong kinh doanh tai viet nam

Theo ông Takeo Nakajima, Trưởng đại diện JETRO tại Hà Nội, các con số đó cho thấy, cũng giống như các nước khác, Việt Nam cũng chịu tác động của COVID-19 khiến tỷ lệ lãi bị suy giảm. Tuy nhiên khi so sánh với tương quan chung, tỷ lệ doanh nghiệp có lãi trong hoạt động kinh doanh năm 2020 tại Việt Nam vẫn cao hơn mức trung bình chung của các khu vực được khảo sát.

Về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2021, tại Việt Nam, tỷ lệ doanh nghiệp cho rằng sẽ “cải thiện” là 53,9%. Chỉ có 12,6% doanh nghiệp trả lời sẽ “suy giảm” do lo ngại về các tác động tiếp theo của đại dịch trong tương lai. Triển vọng này một phần là vì có tới hơn 86% các doanh nghiệp kỳ vọng hoạt động kinh doanh sẽ được bình thường hóa trong năm 2021 (chỉ có 10% doanh nghiệp trả lời là phải từ năm 2022 trở đi).

Về định hướng phát triển kinh doanh trong vòng 1 đến 2 năm tới tại Việt Nam, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời sẽ “mở rộng” là 46,8%, dù giảm 17,1% so với khảo sát năm 2019 nhưng đối chiếu với các quốc gia, khu vực khác thì tỷ lệ này cao chỉ sau Pakistan, Ấn Độ và Myanmar.

Những rủi ro được điểm tên

Các lý do chính để các doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng kinh doanh tại Việt Nam trong thời gian tới bao gồm: “Tăng doanh thu tại thị trường nội địa” (65,9%); “Tăng doanh thu nhờ mở rộng xuất khẩu” (48,7%); “Mức độ tiềm năng và tăng trưởng cao” (44,1%). So sánh với các quốc gia/ khu vực khác thì Việt Nam được các doanh nghiệp Nhật đặt nhiều kỳ vọng vào “mức độ tiềm năng và tăng trưởng cao” và “tăng doanh thu nhờ mở rộng xuất khẩu”.

Về môi trường đầu tư, các doanh nghiệp cho rằng các lợi thế của Việt Nam là: Tiềm năng thị trường/tiềm năng tăng trưởng (66,3%); tình hình chính trị - xã hội ổn định (65,7%); Chi phí nhân công rẻ (56,5%).

Cùng với nhu cầu mở rộng đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng đang xem xét việc thiết lập lại một số chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng do dịch COVID-19 như thay đổi đơn vị thu mua. Về mặt này, Việt Nam bắt đầu thu hút sự chú ý của các nhà cung cấp cũng như nhà thu mua nguyên liệu trên thế giới. Đơn cử tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp cho biết có nhu cầu mở rộng thu mua trong 1 đến 3 năm tới là 198, trong đó có 84.3% doanh nghiệp dự kiến mở rộng thu mua tại chỗ.

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ thu mua nguyên liệu tại chỗ ở Việt Nam tăng nhẹ lên mức 37% (tăng 0,7 điểm so với khảo sát năm 2019). Nhìn lại cả giai đoạn vừa qua, tỷ lệ thu mua tại chỗ của Việt Nam đã tăng dần từ năm 2010, nhưng sự tăng trưởng đó còn chậm. Những năm gần đây mặc dù ngang hàng với Malaysia, nhưng so sánh với Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… thì vẫn ở mức thấp. “Có những doanh nghiệp muốn mở rộng thu mua tại chỗ, tuy nhiên sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ vẫn chưa theo kịp”, ông Takeo Nakajima cho biết.

Riêng trong ngành chế tạo, trong số các doanh nghiệp Nhật Bản tại 20 quốc gia châu Á, châu Đại dương được khảo sát, có 420 doanh nghiệp cho biết muốn thay đổi đơn vị thu mua và tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn Việt Nam đứng thứ 4 (4,3%). Và sau khi thay đổi đơn vị thu mua, số doanh nghiệp lựa chọn Việt Nam đứng ở mức cao nhất (18,8%).

Tuy nhiên về rủi ro, chi phí nhân công tăng (63,7%, tăng 2,6 điểm so với khảo sát năm 2019) cũng được đánh giá là rủi ro lớn nhất. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện/vận hành thiếu minh bạch (48,9% doanh nghiệp tham gia khảo sát đánh giá, tăng 6,3%), thủ tục hành chính phức tạp (46,7%, tăng 13,8%), thiếu tuân thủ quy định, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện… cũng là những rủi ro mà các nhà đầu tư quan ngại trong cuộc khảo sát năm 2020.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400