Doanh nghiệp phục hồi mạnh mẽ

09:14 | 02/08/2022

Theo báo cáo tài chính, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có lợi nhuận cao, ngoại trừ một số đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng từ yếu tố chu kỳ của giá...

doanh nghiep phuc hoi manh me Tạo cơ hội mới cho ngành dệt may
doanh nghiep phuc hoi manh me Doanh nghiệp thành lập mới giảm nhẹ trong tháng 7
doanh nghiep phuc hoi manh me M&A: Cơ hội và thách thức với các doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh đang trên đà phục hồi mạnh mẽ sau khi dịch bệnh Covid-19 trong nước cơ bản được kiểm soát, đất nước chuyển sang giai đoạn "thích ứng linh hoạt, an toàn". Theo thông tin công bố của 590 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán (tính đến ngày 26/7), tổng doanh thu và lợi nhuận tăng lần lượt 25,3% và 17,9% so với cùng kỳ năm 2021. Con số này cho thấy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đang phục hồi mạnh mẽ.

Trong đó, sản lượng hợp nhất quý II của Nhựa Bình Minh (BMP) đạt 26.400 tấn, doanh thu đạt 1.558 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 182 tỷ đồng. Lãnh đạo công ty cho biết mặc dù doanh thu chỉ tăng 7% nhưng lợi nhuận doanh nghiệp gấp 3,5 lần so với cùng kỳ. Nguyên do có mức lợi nhuận bứt phá là giá nguyên liệu đầu vào giảm trong khi giá bán sản phẩm trên thị trường không giảm nên biên lợi nhuận tăng.

doanh nghiep phuc hoi manh me

Thời điểm quý III/2021, Nhựa Bình Minh lần đầu tiên ghi nhận lỗ sau 44 năm kinh doanh với số lỗ trước thuế 32,3 tỷ đồng và sau thuế 26 tỷ đồng. Năm nay, hoạt động kinh doanh trở lại bình thường nên doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao và tiếp tục lạc quan với kết quả thời gian tới. Hiện nay, BMP chưa có kế hoạch giảm giá bán sản phẩm trong những tháng tới. Nguyên nhân được cho là giá nguyên liệu nhựa vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và doanh nghiệp sẽ tiếp tục theo dõi lượng tồn kho của công ty.

Theo một số doanh nghiệp, lợi nhuận quý II năm nay tăng trưởng cao còn do mức nền của quý II năm ngoái ở mức thấp do xã hội vẫn phải đang phòng chống dịch. Đơn cử, PNJ đạt mức lợi nhuận sau thuế 367 tỷ đồng, tăng 64,8% so với cùng kỳ. Năm 2022, PNJ lên kế hoạch doanh thu thuần hơn 25.800 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 1.300 tỷ đồng. Như vậy, sau nửa đầu năm doanh nghiệp này đã hoàn thành 70,5% mục tiêu doanh thu và 82,5% chỉ tiêu lợi nhuận năm.

Một doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh cũng “bật dậy” mạnh mẽ là Công ty tàu vận tải du lịch biển đảo Superdong (SKG) doanh thu quý II/2022 đạt ngưỡng 127 tỷ đồng, giá vốn tăng 46%, lợi nhuận gộp gấp 6,5 lần cùng kỳ năm ngoái, đạt mức 41 tỷ đồng, biên lợi nhuận tăng từ mức 9,57% lên 32,2%.

Chi phí thấp nên trong quý II năm nay SKG có lợi nhuận sau thuế 26 tỷ đồng, xóa đi nỗi ám ảnh lỗ 3 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Theo đó, lãi sau thuế nửa đầu năm nay lên 36 tỷ đồng, gấp 10 lần so với cùng kỳ. Kế hoạch năm 2022 của công ty này đến hết tháng 6 đã đạt được 58% doanh thu và vượt 100% kế hoạch lợi nhuận cả năm.

Theo báo cáo tài chính, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có lợi nhuận cao, ngoại trừ một số đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng từ yếu tố chu kỳ của giá. Một số doanh nghiệp kết quả kinh doanh không khả quan do dựa vào đất đai, đầu tư tài chính, điều này đã được dự báo trước do thị trường chung sụt giảm nên lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp không thể tăng trưởng.

Đánh giá triển vọng kinh doanh quý III và những tháng cuối năm 2022, Công ty Chứng khoán VNDirect cho biết, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục tăng trưởng lạc quan khi nền kinh tế đang trên đà phục hồi. Đặc biệt, lĩnh vực hoạt động sản xuất đang mở rộng, nhiều ngành dịch vụ khởi sắc trở lại sau khi dịch bệnh được kiểm soát và hoạt động đầu tư tư nhân tích cực hơn. Ngành dịch vụ sẽ phục hồi dẫn đầu là du lịch, hàng không; tiếp đến ngân hàng, bảo hiểm và doanh nghiệp với lượng “tiền mặt” lớn có thể được hưởng lợi từ môi trường lãi suất tăng; Một số ngành sữa thực phẩm có thể hưởng lợi từ giá nguyên liệu sẽ đạt đỉnh vào cuối năm…

Tuy vậy, các chuyên gia vẫn khuyến nghị các nhà đầu tư cần cẩn trọng với các yếu tố tác động từ bên ngoài như Fed vẫn chưa ngừng tăng lãi suất nếu lạm phát của Mỹ chưa giảm về ngưỡng 2% như kỳ vọng của họ. Khi lãi suất đồng USD tăng lên sẽ tạo áp lực lên tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chủ chốt trên thị trường quốc tế và những nền kinh tế có độ mở rộng như Việt Nam.

Bên cạnh đó là áp lực lạm phát cũng có xu hướng gia tăng. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2022 tăng 0,4% so với tháng trước, tăng 3,59% so với tháng 12/2021 và tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng năm 2022, CPI tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng chỉ tăng 1,44%, thấp hơn mức CPI bình quân chung, cho thấy biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng rủi ro tăng giá gián tiếp từ giá xăng dầu vào các lĩnh vực vận tải, logistics… cần phải tính đúng, tính đủ, từ đó các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp mới có kế hoạch phòng ngừa rủi ro trong những tháng cuối năm 2022.

Thu Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900