Doanh nghiệp tự tin phục hồi và phát triển

10:10 | 07/05/2021

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, dịch Covid vẫn tiếp tục tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp đang dần thích nghi với tình hình mới và chủ động xây dựng các phương án sản xuất nhằm vượt qua giai đoạn khó khăn, phục hồi để tăng trưởng.

Theo đánh giá của các doanh nghiệp, trong quý II/2021 tình hình sản xuất kinh doanh sẽ dần đi vào ổn định hơn. Có 85,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng tốt lên và ổn định, trong đó: 51% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên và 34,1% cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Có 14,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn so với quý I/2021. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 86,2% dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2021 tốt hơn và giữ ổn định so với quý I/2021; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 84,8% và 83,4%.

doanh nghiep tu tin phuc hoi va phat trien
Ảnh minh họa

Trên thực tế, trong bối cảnh dịch bệnh đang hoành hành tại nhiều quốc gia thì Việt Nam nổi lên như điểm sáng về môi trường đầu tư thuận lợi. Có được kết quả đó phải kể đến việc Việt Nam kiểm soát tốt dịch Covid-19 và môi trường đầu tư được cải thiện đáng kể. Đặc biệt là những triển vọng lạc quan từ các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA… mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp. Theo thống kê, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/4/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 12,25 tỷ USD. Trong đó có 451 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 8,46 tỷ USD, giảm 54,2% về số dự án và tăng 24,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 263 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 2,75 tỷ USD, giảm 10,6%; có 1.151 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 1,05 tỷ USD… Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng đầu năm ước tính đạt 5,5 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện tại, dịch bệnh vẫn đang tác động tiêu cực đến doanh nghiệp trên diện rộng. Thị trường nội địa bị thu hẹp và các chuỗi cung ứng bị gián đoạn là khó khăn lớn nhất. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp Việt đã nỗ lực khắc phục khó khăn, nhanh chóng thích ứng với tình hình mới. Theo đại diện Sở Công thương TP. Hà Nội, trong 4 tháng đầu năm 2021, các doanh nghiệp trên địa bàn đã có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần thúc đẩy kinh tế thủ đô phát triển. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có sự phục hồi nhanh, tăng trưởng mạnh trở lại. Các doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án sản xuất, chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm trong từng giai đoạn cụ thể. Riêng trong tháng 4/2021, thành phố có 993 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 89% so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký đạt 29,3 nghìn tỷ đồng, tăng 112%. Cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 4, thành phố có 8,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký đạt 95,2 nghìn tỷ đồng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 ước tính tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước.

Theo đại diện UBND TP. Hà Nội, thời gian qua thành phố đã tích cực tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhất là cải thiện môi trường đầu tư, giảm thủ tục hành chính, hỗ trợ trong việc giãn, giảm thuế và nhiều giải pháp khác. Theo bảng xếp hạng PCI vừa được công bố, Hà Nội tiếp tục đứng trong top 10 của bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh. Trong 10 chỉ số thành phần, Hà Nội được đánh giá cao về đào tạo lao động (7,85 điểm), chi phí thời gian (7,93 điểm), chi phí gia nhập thị trường (6,74 điểm), dịch vụ hỗ trợ lao động (6,68 điểm). Hà Nội cũng có nhiều cố gắng nhằm giảm chi phí không chính thức, tăng cạnh tranh bình đẳng và tăng tính minh bạch, tính năng động của chính quyền…

Cùng với đó, các tổ chức tín dụng trên địa bàn cũng tích cực thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay, tạm thời giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản vay phù hợp quy định của NHNN và xem xét cho khách hàng vay vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Tính đến hết tháng 4/2021, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt 2.250 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước và tăng 2,1% so với thời điểm kết thúc năm 2020, dư nợ cho vay đạt 2.035 nghìn tỷ đồng, chiếm 90,4% trong tổng dư nợ, tăng 1,5% và tăng 2,4%. Trong đó hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 384 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,9%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,4%....

Với nhiều chính sách kịp thời đang mang lại hiệu quả tích cực, số doanh nghiệp hồi phục và đang trên đà phát triển có xu hướng tăng lên. Các doanh nghiệp đã không ngừng nỗ lực, tìm kiếm các hướng đi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo sự tăng trưởng về doanh thu, ổn định thu nhập, ổn định đời sống của người lao động. Trong thời gian tới, thành phố tiếp tục chỉ đạo các doanh nghiệp vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa nghiêm túc thực hiện các yêu cầu an toàn, bảo đảm công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Nguyễn Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.645 22.875 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.675 22.875 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.653 22.873 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.680 22.860 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.680 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.668 22.883 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.659 22.869 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.700 22.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000