Doanh nghiệp Việt cần tham gia tích cực vào cuộc chơi

10:51 | 19/11/2020

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, DN Việt cần tập trung đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại trong sản xuất và chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường hợp tác kết nối với đối tác trong chuỗi cung ứng, tiếp cận và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.

Tại Diễn đàn xuất khẩu 2020 với chủ đề “Dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và phát triển bền vững vùng cung ứng nguyên liệu sau Covid-19” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) tổ chức ngày 18/11/2020, ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hồ Chí Minh cho biết, tỷ trọng kinh tế thành phố trong nền kinh tế cả nước tiếp tục tăng, đến năm 2020 chiếm hơn 22% tổng GDP, khẳng định là “đầu tàu” kinh tế của khu vực và cả nước.

Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề tới hoạt động giao thương, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam nổi lên như một “ngôi sao sáng” với thành tích phòng chống dịch được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. GDP 9 tháng năm 2020 tăng trưởng dương 2,12% (thuộc số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương); xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2020 tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, đạt 229,27 tỷ USD, mở ra rất nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam bứt phá.

doanh nghiep viet can tham gia tich cuc vao cuoc choi
DN nông sản Việt cần rất nỗ lực để đẩy mạnh xuất khẩu

Theo ITPC, cuộc khủng hoảng Covid-19 đã tác động tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội… trên bình diện toàn cầu. Sự đứt gãy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các trung tâm chủ yếu về thương mại, FDI và các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Mặc dù Việt Nam đang là điểm sáng trong bối cảnh đó, tuy nhiên, thực tế hiện nay, điều đáng lo ngại chính là mức độ tham gia của Việt Nam vào các GVC và khu vực còn rất hạn chế.

Cụ thể, số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, năm 2018, Việt Nam chỉ tạo ra được 20,4 tỷ USD thông qua việc tham gia vào các GVC, xếp thứ 53 trên tổng số 174 quốc gia. Con số này chưa bằng 1/4 của quốc gia tiếp theo trong khối ASEAN là Philippines với 84,8 tỷ USD (xếp thứ 34).

GVC hiện chiếm tới 66% giao dịch thương mại. Nhưng, mức độ nội địa hóa của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp, chỉ đạt 28% trong tổng kim ngạch thương mại. Không những vậy, Việt Nam hiện đang tập trung quá mức vào một số thị trường, sản phẩm nhất định. Các chuyên gia ước tính rằng, cứ 1% tăng lên trong sự tham gia GVC sẽ làm tăng mức thu nhập bình quân đầu người lên hơn 1%, do vậy tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào GVC sẽ là quan trọng để thúc đẩy nhanh năng suất và tăng trưởng.

Ông Phạm Thiết Hòa, Tổng giám đốc Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn – TNHH MTV cho biết, trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, với các mặt hàng chủ lực như rau quả, hạt điều, chè, cà phê, gạo, hạt tiêu, cao su… Tuy nhiên, số liệu điều tra của Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho thấy tỷ trọng nông sản chế biến sâu được xuất khẩu của Việt Nam còn rất hạn chế, mới chỉ đạt khoảng 25 – 30% tổng sản lượng nông sản (bằng một nửa so với các nước ASEAN). Nhiều sản phẩm trong số đó đạt tỷ lệ rất thấp như rau, quả, thực phẩm chỉ đạt 10%, cà phê chỉ đạt 4 – 6%...

Giải pháp trước mắt là cần tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, bởi các hiệp định này có rất nhiều ưu đãi về thuế quan cho sản phẩm nông sản của Việt Nam. Đơn cử như với Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), phần lớn hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi có hiệu lực hoặc sau 3-5 năm. Hay như EVFTA, EU cam kết sẽ đưa thuế suất về 0% sau một lộ trình nhất định đối với sản phẩm từ gạo và tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm, giúp Việt Nam có thể xuất khẩu 100.000 tấn gạo tấm vào EU hàng năm, vì vậy cơ hội để xuất khẩu mặt hàng này cũng được rộng mở...

“Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, DN Việt cần tập trung đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại trong sản xuất và chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường hợp tác kết nối với đối tác trong chuỗi cung ứng, tiếp cận và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tối ưu hóa hiệu quả của dịch vụ logistics trong xuất khẩu nông sản, xây dựng và phát triển nền nông nghiệp hữu cơ thông qua cơ chế liên kết “6 nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, ngân hàng, nhà doanh nghiệp và nhà phân phối). Đồng thời, chú trọng xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu quốc gia, đẩy mạnh việc cấp mã số vùng trồng, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc cho nông sản Việt. Bên cạnh đó, nhà nước quan tâm xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững”, ông Phạm Thiết Hòa đưa ra khuyến nghị.

Tuyết Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.055 23.265 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.085 23.265 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.034 23.264 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.070 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.080 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.073 23.285 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.070 23.270 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.080 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.100 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.200
Vàng SJC 5c
55.750
56.220
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.400
54.100