Đổi mới thể chế để thúc đẩy tam nông phát triển bền vững

09:35 | 05/03/2022

Chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn được coi là giải pháp cho những khó khăn đang phải đối mặt, góp phần chuyển đổi hệ thống nông sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, giúp giải quyết bài toán về năng suất và chất lượng, tiết kiệm tài nguyên...

doi moi the che de thuc day tam nong phat trien ben vung Agribank: Khẳng định vai trò và vị thế trong phát triển tam nông
doi moi the che de thuc day tam nong phat trien ben vung Liên kết để phát triển tam nông bền vững
doi moi the che de thuc day tam nong phat trien ben vung Dịch bệnh không cản được tín dụng cho tam nông

Nghị quyết T.Ư 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết 26-NQ/TƯ ngày 5/8/2008) đã khẳng định “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết đã tạo nên một diện mạo mới cả về chất và lượng cho khu vực nông thôn.

Đặt trong bối cảnh chung mới của hội nhập toàn cầu, những biến động của kinh tế - chính trị trên thế giới, CMCN 4.0 và biến đổi khí hậu, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta đòi hỏi phải có sự điều chỉnh chiến lược mang tầm vĩ mô để phát triển bền vững.

doi moi the che de thuc day tam nong phat trien ben vung
Cần áp dụng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài

Kết quả nghiên cứu của TS. Dương Nam Hà, giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cho thấy, hộ nông dân là lực lượng tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nước ta, tuy nhiên số lượng hộ nông dân có xu hướng giảm theo thời gian. Mô hình kinh tế hộ nông dân đang dần có sự chuyển đổi sang hình thức trang trại, góp phần đáng kể phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị sản phẩm, tuy nhiên xu hướng này còn chậm, chưa đáng kể. Các hộ nông dân là chủ thể chính được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhưng diện tích đất sử dụng bình quân mỗi hộ rất nhỏ và manh mún. Các hộ nông dân đóng góp nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế nông thôn, nhưng trình độ, kỹ năng của lao động còn hạn chế. Các hộ nông dân đã chủ động trong đầu tư trang bị máy móc, thiết bị cho phát triển kinh tế nông nghiệp, tuy nhiên mức đầu tư còn hạn chế và các trang thiết bị còn chưa tiên tiến, hiện đại.

Hiện nay, chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn được coi là giải pháp cho những khó khăn đang phải đối mặt, góp phần chuyển đổi hệ thống nông sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, giúp giải quyết bài toán về năng suất và chất lượng, tiết kiệm tài nguyên; tăng hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp thông qua tiềm năng ứng dụng khoa học công nghệ mới, như: Ứng dụng từ trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ viễn thám…

Song, việc triển khai công nghệ số ở vùng nông thôn gặp nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng và nguồn lực liên quan đến số hóa còn rất thiếu và yếu. Chính vì vậy, cần xây dựng cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển các hệ sinh thái nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trong nông nghiệp dựa trên nền tảng số, theo định hướng thị trường và giải quyết được các vấn đề có tính tổng thể, liên ngành, liên vùng và làm cơ sở thúc đẩy chuyển đổi số nông nghiệp. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin ở nông thôn đi cùng chương trình khung đào tạo về công nghệ số, chuyển đổi số cho các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, nông dân.

Bên cạnh đó, chính sách giao đất nông nghiệp trong hạn mức không phải nộp tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã giúp người sản xuất bớt gánh nặng tài chính. Nó cho phép người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất góp phần sử dụng đất hiệu quả, thúc đẩy thị trường quyền sử dụng đất phát triển.

Tuy nhiên, chính sách về đất đai cũng đã có những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình tam nông thời gian qua. Cụ thể, các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quá rộng và chưa phân biệt rõ thu hồi đất cho mục đích xã hội chung với các dự án thương mại như dự án các khu nhà ở thương mại, khu đô thị do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư. Do vậy, đất nông nghiệp có thể bị thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hay sau khi điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gây ảnh hưởng đến đầu tư sản xuất. Ngoài ra, kỳ quy hoạch sử dụng đất 10 năm trong khi thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đến 50 năm, nên có thể xảy ra tình trạng đất nông nghiệp sẽ bị thu hồi để chuyển thành mục đích sử dụng khác khi hết kỳ quy hoạch. Điều này cũng ảnh hưởng đến người sử dụng đất, nhất là đối với người đầu tư lớn vào đất có thời gian thu hồi vốn dài.

Giá bồi thường về đất thấp hơn giá đất thị trường, trong khi doanh nghiệp sau khi đầu tư hạ tầng thì giá đất lại tăng lên rất nhiều lần, khiến người bị thu hồi đất cảm thấy thiệt thòi. Chính sách hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất chưa bảo đảm ổn định đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất tại nhiều dự án.

Khung giá đất, trong đó có giá đất nông nghiệp, đất ở nông thôn còn thấp chưa phù hợp với giá thị trường. Tính cạnh tranh trong tiếp cận đất đai chưa cao. Cho thuê đất phần lớn vẫn theo hình thức chỉ định, chưa thực hiện triệt để theo cơ chế đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Thủ tục chuyển đổi giữa các loại đất nông nghiệp và từ đất nông nghiệp để phục vụ các mục đích phi nông nghiệp, nhất là với đất lúa còn phức tạp. Ứng dụng phương pháp tiên tiến trong dự báo nhu cầu sử dụng đất, nông sản, thủy sản, lâm sản cũng hạn chế.

Thực trạng trên cũng là nguyên nhân khiến đất nông nghiệp tại nhiều địa phương bị bỏ hoang gây lãng phí tiềm năng đất đai.

Nhằm thực hiện thắng lợi Chương trình tam nông giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn 2045, cần đổi mới chính sách đất đai theo hướng bỏ hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp; áp dụng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài; áp dụng thuế suất lũy tiến đối với đất nông nghiệp và đặc biệt là đất bỏ hoang, sử dụng không hiệu quả; tập trung đất nông nghiệp; hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; sửa đổi các quy định về miễn, giảm tiền thuê đất; quản lý giá đất; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giá đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong chấp hành pháp luật về đất đai, GS -TS. Trần Trọng Phương kiến nghị.

Duy Khánh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750