Dư địa giảm lãi suất cho vay rất hạn hẹp

09:48 | 14/01/2022

Theo các chuyên gia, dư địa giảm thêm lãi suất là rất hạn hẹp và tuỳ thuộc vào “sức khỏe” của từng ngân hàng.

du dia giam lai suat cho vay rat han hep Kết quả giảm lãi suất, giảm phí dịch vụ đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 tháng 11/2021
du dia giam lai suat cho vay rat han hep Giảm lãi suất, phí dịch vụ hỗ trợ khách hàng đạt 87,78% so với cam kết
du dia giam lai suat cho vay rat han hep Tiếp tục tiết giảm chi phí để phấn đấu giảm lãi suất cho vay

Phát biểu trước Quốc hội dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc giảm lãi suất là vấn đề mà doanh nghiệp và Quốc hội rất quan tâm. Với ngành Ngân hàng, đây cũng được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành.

Theo đó, ngay sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, NHNN đã ba lần cắt giảm các mức lãi suất điều hành và giữ lãi suất điều hành ở mức thấp trong năm 2021 nhằm giảm chi phí tiếp cận vốn từ NHNN, tạo điều kiện cho TCTD giảm lãi suất cho vay. Đồng thời, NHNN chỉ đạo các TCTD tiết giảm tối đa các loại chi phí, giảm lợi nhuận để tập trung giảm lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu và các khoản cho vay mới nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp.

Với giải pháp đồng bộ của NHNN và việc triển khai nghiêm túc của các TCTD, mặt bằng lãi suất cho vay trong năm 2020 giảm khoảng 1% và năm 2021 tiếp tục giảm khoảng 0,8%. Tổng số tiền lãi TCTD đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng gần 40.000 tỷ đồng.

du dia giam lai suat cho vay rat han hep
Các ngân hàng đã tiết giảm tối đa chi phí hoạt động, giảm lợi nhuận để giảm lãi suất hỗ trợ nền kinh tế

Bước sang năm 2022, mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục ổn định cho dù lãi suất huy động của một số ngân hàng đã có sự điều chỉnh theo hướng đi lên. Đơn cử, Sacombank áp dụng biểu lãi suất mới từ 4/1/2022 đối với hình thức gửi tại quầy, lãi suất cao nhất của Sacombank là 6,3%/năm cho kỳ hạn 36 tháng, tăng 0,2%/năm so với trước đó. Tương tự, lãi suất kỳ hạn 12 tháng tăng từ 5,5%/năm lên 5,8%/năm, kỳ hạn 6 tháng tăng từ 4,3%/năm lên 4,6%/năm. VPBank mới đây công bố biểu lãi suất mới cho khách hàng cá nhân áp dụng từ ngày 4/1/2022 với mức tăng ở hàng loạt kỳ hạn, đặc biệt tăng mạnh ở các khoản tiền gửi lớn, kỳ hạn dài...

Động thái tăng lãi suất huy động vào thời điểm cận Tết âm lịch của các ngân hàng theo đánh giá của giới chuyên môn phù hợp với diễn biến thị trường. Thông thường các ngân hàng đều phải thu hút dòng tiền nhàn rỗi của người dân chuẩn bị cho kế hoạch cho vay của cả năm, đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Nhất là trong bối cảnh dòng tiền đang chảy nhiều vào thị trường tài sản như bất động sản, chứng khoán thì việc tăng lãi suất huy động để hút vốn về ngân hàng cũng là điều dễ hiểu. Ngoài ra, áp lực lạm phát cũng là lý do đẩy lãi suất huy động tăng.

Theo ước tính của Công ty chứng khoán SSI, lãi suất huy động có thể sẽ tăng 20-25 điểm cơ bản trong năm 2022 tại các ngân hàng lớn. Một yếu tố ảnh hưởng lớn đến lãi suất là câu chuyện lạm phát. Năm nay, Quốc hội đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4%, nhưng áp lực tăng giá chi phí đầu vào trên thế giới, đặc biệt là giá xăng dầu sẽ là một thách thức lớn đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và hoạt động huy động, cho vay của các TCTD. “Lãi suất có thể sẽ biến động trong biên độ hẹp nếu không có áp lực lạm phát bất ngờ”, SSI đánh giá.

Trong khi giảm lãi suất luôn là mong muốn của doanh nghiệp. Lãnh đạo một doanh nghiệp cho biết, trong giai đoạn mới phục hồi, doanh nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn do vậy rất cần vốn lưu động với mặt bằng lãi suất ổn định để yên tâm mở rộng đầu tư kinh doanh trở lại.

Thấu hiểu điều đó, bản thân các ngân hàng cũng đang rất nỗ lực để cân bằng lợi ích giữa người gửi tiền và người vay. Trao đổi với phóng viên, CEO một ngân hàng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc điều chỉnh lãi suất huy động chỉ diễn ra ở một vài ngân hàng chủ yếu là ở kỳ hạn dài nhằm cân đối nguồn vốn sao cho phù hợp với kế hoạch kinh doanh trong năm. Về phía các ngân hàng, dù có tăng lãi suất đầu vào, nhưng họ cố gắng tìm mọi giải pháp để giữ ổn định mặt bằng lãi suất đầu ra như hiện nay.

Còn đối với vấn đề giảm lãi suất cho vay, theo vị này, hơn ai hết ngân hàng cũng rất muốn giảm theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN. “Lãi suất giảm áp lực trả nợ vơi đi, người dân hăng hái trong việc đầu tư kinh doanh hơn thay vì giữ chặt tiền trong nhà. Tôi cũng mong muốn nhưng thực sự làm được thì phải nỗ lực rất cao”, vị CEO này bày tỏ và cho biết, hiện tại các ngân hàng khó cắt giảm lãi suất huy động.

Theo giới chuyên gia, hiện chỉ có hai giải pháp để các ngân hàng có thể giảm thêm lãi suất, đó là tiết giảm chi phí hoạt động và nâng chất lượng danh mục tài sản để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Tuy nhiên hiện chi phí hoạt động của các ngân hàng đã ở mức tối thiểu sau nhiều lần cắt giảm trong hai năm qua, thậm chí lương thưởng của cán bộ cũng được tiết giảm. Trong khi hiện các ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro nợ xấu gia tăng khi mà dịch bệnh vẫn diễn biến khó lường.

Vì vậy theo các chuyên gia, dư địa giảm thêm lãi suất là rất hạn hẹp và tuỳ thuộc vào “sức khỏe” của từng ngân hàng. Khó khăn càng thêm lớn khi mà lạm phát đang có xu hướng tăng cao trên toàn cầu. Trong khi Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, nên rủi ro nhập khẩu lạm phát cũng rất lớn. Áp lực lạm phát đã khiến không ít NHTW trên thế giới phải đảo chiều chính sách tiền tệ sang thắt chặt, đặc biệt là Fed. Tất cả những điều đó đang gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Phó Tổng giám đốc một NHTMCP trên địa bàn Hà Nội thừa nhận, dư địa giảm lãi suất là rất hạn hẹp, nhất là nếu chỉ có nỗ lực từ phía ngân hàng. “Thời gian qua các ngân hàng đã cố gắng cắt giảm mạnh chi phí hoạt động nên rất khó cắt giảm thêm trong thời gian tới. Do vậy, các ngân hàng cần được hỗ trợ thêm từ phía cơ quan quản lý để tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn như cân nhắc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất trên thị trường mở… Từ đó ngân hàng tối ưu hoá đầu vào để có điều kiện giảm lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng”, vị này đề xuất.

Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng cho rằng, trong bối cảnh dư địa của chính sách tiền tệ còn khá hạn hẹp và dư địa tài khóa được củng cố trong những năm gần đây, an toàn nợ công vẫn được đảm bảo, vai trò của chính sách tài khoá cần trở thành chủ lực, còn chính sách tiền tệ chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ.

Về phía NHNN, báo cáo trước Quốc hội, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, NHNN cũng mong muốn phấn đấu giảm lãi suất để phù hợp với những quy định của pháp luật, cũng như thể hiện quyết tâm của hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Trên thực tế, trong suốt thời gian qua, NHNN cũng động viên, khuyến khích, kêu gọi các TCTD miễn, giảm lãi vay, giảm phí và nhận được sự đồng thuận rất cao.

Hà Thành

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.250 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.274 23.789 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.249 23.540 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.400
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.400
67.400
Vàng SJC 5c
66.400
67.420
Vàng nhẫn 9999
52.700
53.600
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.200