Đủ điều kiện ổn định tỷ giá như cam kết

08:34 | 30/03/2015

Sau thông điệp của NHNN: Tiếp tục điều hành tỷ giá ổn định trong biên độ đề ra từ đầu năm, phóng viên TBNH đã có cuộc trao đổi với PGS-TS. Đào Văn Hùng, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

PGS-TS. Đào Văn Hùng

Ông đánh giá thế nào về hiệu ứng của thông điệp ổn định tỷ giá mà NHNN vừa đưa ra?

Theo tôi, các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của NHNN trong thời gian qua đã khá chủ động, linh hoạt, đúng định hướng… Điều này giúp ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối, tăng niềm tin vào tiền đồng.

Diễn biến tăng tỷ giá trong những ngày giữa tháng 3/2015 vừa qua chủ yếu do yếu tố tâm lý, xuất hiện khi đồng USD tăng giá mạnh trên thị trường thế giới, khi nhập siêu quay trở lại... Mặc dù có biến động tăng nhưng mặt bằng tỷ giá vẫn thấp hơn so với trần quy định của NHNN, diễn biến của thị trường chưa có biểu hiện đáng quan ngại. Vì vậy, việc NHNN vẫn điều hành tỷ giá theo biên độ đề ra từ đầu năm là một động thái cần thiết để ổn định thị trường.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng công cụ tỷ giá cần được sử dụng trong thời điểm này để hỗ trợ xuất khẩu. Quan điểm của ông?

Việc giảm giá đồng nội tệ về mặt lý thuyết có thể cải thiện xuất khẩu, do giảm giá nội tệ làm giảm giá hàng xuất khẩu khi tính bằng ngoại tệ, giúp tăng khả năng cạnh tranh về giá của hàng xuất khẩu.

Tuy nhiên, khi phá giá nội tệ, bên cạnh tác động tích cực khiến khối lượng xuất khẩu tăng do giá hàng xuất khẩu rẻ đi tương đối so với hàng nước ngoài thì cũng có tác động tiêu cực làm tăng chi phí nhập khẩu tính bằng nội tệ. Nếu hiệu ứng về khối lượng lên xuất khẩu bù đắp được hiệu ứng tiêu cực về chi phí nhập khẩu, việc phá giá nội tệ mới có thể cải thiện cán cân thương mại...

Với Việt Nam, xuất khẩu có một tỷ trọng đáng kể là hàng thô và sơ chế như dầu thô, than đá, nông - lâm - thủy sản, do đó độ co giãn của cầu xuất khẩu với giá là không lớn. Nghĩa là, người ta cũng không vì giá rẻ hơn mà ăn nhiều gạo hơn, hay mua nhiều thủy sản hơn. Chúng ta cũng cần chú ý rằng, năng lực cạnh tranh thực sự của hàng hóa Việt Nam còn thấp so với các nước trên thế giới, đặc biệt về mẫu mã, chủng loại, chất lượng... nên dù giá bán luôn ở mức thấp hơn so với các nước, sức cạnh tranh vẫn hạn chế. Vì vậy, tôi cho rằng điều chỉnh tỷ giá dù có cải thiện xuất khẩu nhưng mức độ không nhiều.

Trong khi đó, cơ cấu kinh tế của Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào nguồn máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu, sản xuất nặng tính gia công. Xuất khẩu dệt may thì tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu năm 2013 là 82,5%, giày dép khoảng 70%; các sản phẩm nông nghiệp như lúa gạo, thủy sản xuất khẩu phải nhập khẩu từ phân bón, thuốc trừ sâu đến thức ăn chăn nuôi. Nhập khẩu chiếm khoảng 80% GDP thì hơn 90% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất. Do đó, giá trị gia tăng của xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là không lớn, trong khi đó chi phí nhập khẩu có thể tăng mạnh dưới tác động của giảm giá nội tệ.

Chúng ta phải chú ý đến tác động này bởi trong quý I năm nay, kinh tế hồi phục mạnh mẽ ngoài dự đoán ở mức 6,03% đã khiến nhập khẩu tăng trở lại. Chi phí nhập khẩu nếu gia tăng sẽ gây khó khăn cho DN và sự phục hồi kinh tế.

Các điều kiện căn bản cho ổn định tỷ giá vẫn rất vững chắc

Quan điểm của ông là điều chỉnh tỷ giá chưa chắc có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam. Vậy, cơ sở nào để NHNN ổn định tỷ giá trong biên độ đề ra từ đầu năm?

Không khó để nhìn thấy các điều kiện căn bản cho ổn định tỷ giá vẫn rất vững chắc. Cán cân thanh toán quốc tế tổng thể năm 2014 thặng dư ở mức cao, tức là nền kinh tế có dư cung ngoại tệ rất lớn.

Với chính sách điều hành của NHNN hiện nay luôn nhất quán theo hướng nâng cao vị thế và tính hấp dẫn của tiền đồng, củng cố lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng… thì lượng ngoại tệ này đã được người dân bán cho các TCTD, sau đó lại được TCTD bán cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước. Năm 2014, dự trữ ngoại hối đã tăng cao kỷ lục, tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN có nguồn lực dồi dào để giữ ổn định tỷ giá. Quý I năm nay, NHNN cũng đã cho biết là cán cân tổng thể tiếp tục thặng dư 2,8 tỷ USD.

Nhưng, có nên lo ngại về mức nhập siêu 1,8 tỷ USD trong quý I/2015?

Phải thấy rằng, thương mại quốc tế chỉ đóng góp một phần trong tổng thể cân bằng cung - cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Còn những nguồn cung ngoại tệ khác nữa như FDI, ODA, kiều hối… FDI giải ngân vẫn liên tục tăng trong những năm vừa qua, quý I/2015 là hơn 3 tỷ USD. ODA ước tính khoảng 0,4 tỷ USD. Về kiều hối, quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong những nước có dòng kiều hối lớn và rất ổn định. Có những năm kinh tế thế giới khủng hoảng, suy thoái nhưng không ảnh hưởng đến dòng kiều hối về Việt Nam. Kiều hối quý I/2015 cũng được ước tính ở mức khoảng 1,7 tỷ USD.

Làm phép tính cộng trừ đơn giản cũng thấy được tổng thể nền kinh tế có dư cung ngoại tệ và các nguồn cung ngoại tệ là khá bền vững. Với tình hình như vậy, việc ổn định tỷ giá theo đúng định hướng đặt ra từ đầu năm là nằm trong tầm tay của NHNN. Theo tôi, điều hành tỷ giá trong thời gian tới cần hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cân nhắc hài hòa trong tổng thể tác động của tỷ giá đến các yếu tố như xuất khẩu, nhập khẩu, lạm phát, nợ công... đảm bảo đạt được mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra.

Xin cảm ơn ông!

Ngọc Quyết thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.130 23.340 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.165 23.345 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.150 23..360 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.142 23.342 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.190 23.320 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.520
48.890
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.520
48.870
Vàng SJC 5c
48.520
48.870
Vàng nhẫn 9999
47.520
48.520
Vàng nữ trang 9999
47.520
48.320