ECB cam kết mua trái phiếu nhanh hơn

10:56 | 14/06/2021

Chủ tịch ECB Christine Lagarde cam kết sẽ thực hiện mua trái phiếu nhanh hơn, ngay cả khi các quan chức ECB lần đầu tiên kể từ năm 2018 thừa nhận, triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng euro không còn bị che mờ bởi những rủi ro.

ecb cam ket mua trai phieu nhanh hon ECB sẽ không thảo luận về thắt chặt chính sách, dự báo lạm phát vẫn thấp hơn mục tiêu
ecb cam ket mua trai phieu nhanh hon Eurozone: Lạm phát tháng Năm vượt mục tiêu của ECB
ecb cam ket mua trai phieu nhanh hon ECB cam kết ngăn đà tăng của lợi suất trái phiếu

Kết thúc cuộc họp chính sách tháng 6, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định giữ nguyên các mức lãi suất chính sách là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay cận biên và lãi suất tiền gửi tương ứng ở mức 0%; 0,25% và -0,5%. Cơ quan này cũng quyết định sẽ tiếp tục Chương trình mua tài sản khẩn cấp để ứng phó với đại dịch (PEPP) có tổng quy mô 1,85 nghìn tỷ euro (2,25 nghìn tỷ USD) cho tới ít nhất là hết tháng 3/2022…

Phát biểu tại cuộc họp báo được tiến hành sau đó, Chủ tịch ECB Christine Lagarde còn cam kết sẽ thực hiện mua trái phiếu nhanh hơn, ngay cả khi các quan chức ECB lần đầu tiên kể từ năm 2018 thừa nhận, triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng euro không còn bị che mờ bởi những rủi ro. “Lãi suất thị trường tăng liên tục có thể dẫn đến việc thắt chặt các điều kiện tài chính”, bà Christine Lagarde cho biết hôm 10/6, giải thích lý do tại sao ECB cam kết giữ quy mô mua tài sản ở mức “cao hơn đáng kể” so với những tháng đầu năm. “Việc thắt chặt như vậy là quá sớm và có thể gây rủi ro cho sự phục hồi kinh tế đang diễn ra”.

ecb cam ket mua trai phieu nhanh hon
Ảnh minh họa

Christine Lagarde và các đồng nghiệp của bà đã kết hợp cách tiếp cận thận trọng đó với triển vọng tăng trưởng được cải thiện trong năm nay và năm tới, cùng với đánh giá kể từ tháng 12/2018 là rủi ro đối với khu vực đồng euro đã “cân bằng trên diện rộng”.

Những quan điểm trái ngược đó có thể phản ánh sự thỏa hiệp giữa các luồng ý kiến khác nhau trong các quan chức. Lagarde cho biết, “có một vài quan điểm khác nhau” về tốc độ mua vào theo Chương trình PEPP; song bà cũng nói thêm rằng, vẫn còn “quá sớm” để thảo luận khi nào chương trình này nên kết thúc.

Theo bà Christine Lagarde, mặc dù sự phục hồi thậm chí còn mạnh mẽ hơn dựa trên triển vọng sáng sủa hơn đối với nhu cầu toàn cầu và mức tiết kiệm hộ gia đình giảm nhanh hơn dự đoán sau khi các biện pháp hạn chế xã hội được dỡ bỏ. Tuy nhiên, đại dịch đang diễn ra, bao gồm sự lây lan của các biến thể virus mới và những tác động của nó đối với các điều kiện kinh tế và tài chính tiếp tục là những rủi ro.

Bình luận về những phát biểu này, Rishi Mishra - một nhà phân tích tại Futures First cho biết: việc nhận định rủi ro là “cân bằng trên diện rộng” trong khi vẫn duy trì tốc độ mua tài sản cao hơn rõ ràng là nghiêng về xu hướng nói lỏng.

Các nhà hoạch định chính sách của ECB đã đẩy nhanh tốc độ Chương trình PEPP cách đây 3 tháng để kiềm chế đà tăng của chi phí vay mượn và một số ý kiến cho nền kinh tế khu vực chưa sẵn sàng cho việc rút hỗ trợ. Theo đó, tốc độ mua vào tài sản của ECB đã được đẩy lên khoảng 19 tỷ euro mỗi tuần kể từ tháng 3, tăng mạnh so với mức từ 14 tỷ euro hồi đầu năm.

Quyết định hôm thứ Năm cho thấy họ có khả năng sẽ tiếp tục ở hoặc gần với mức cao đó cho đến khi các công ty phục hồi. Hầu hết các nhà kinh tế không mong đợi ECB sẽ giảm tốc độ mua tài sản trước tháng 9. “ECB dưới thời Chủ tịch Christine Lagarde một lần nữa thể hiện quyết tâm cung cấp cho nền kinh tế khu vực đồng euro nhiều biện pháp kích thích tiền tệ để bôi trơn bánh xe phục hồi”, David Powell - nhà kinh tế của Bloomberg Economics nói.

Mặc dù công bố các dự báo cho thấy tốc độ tăng trưởng và lạm phát sẽ nhanh hơn trong năm nay và năm sau, song Chủ tịch ECB nhấn mạnh rằng, áp lực giá cả trong nền kinh tế “vẫn đang yếu”. Như vậy các nhà hoạch định chính sách cả ở khu vực đồng euro và Mỹ đều cho rằng giá cả đang được thúc đẩy bởi các yếu tố tạm thời bao gồm chi phí nhiên liệu cao hơn và phục hồi chậm chạp của sản xuất.

Các quan chức ECB đã nhiều lần cảnh báo rằng còn quá sớm cho một cuộc tranh luận xung quanh việc thu hẹp các biện pháp chống đại dịch. Chương trình PEPP của ECB hiện được thiết lập kéo dài cho đến tháng 3/2022 và hầu hết các nhà kinh tế không mong đợi chương trình này sẽ được gia hạn. Song song với Chương trình PEPP, các quan chức vẫn giữ nguyên lãi suất, các khoản vay dài hạn cho các ngân hàng và chương trình mua trái phiếu cũ hơn.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550