ECB quyết tâm kiềm chế lạm phát

08:37 | 31/10/2022

Không chỉ tiếp tục tăng mạnh lãi suất, NHTW châu Âu (ECB) còn phát đi tín hiệu sẽ thảo luận về việc thu hẹp bảng cân đối tài sản tại các cuộc họp chính sách tới, cho thấy quyết tâm kiềm chế lạm phát của cơ quan này khi mà lạm phát tại khu vực đồng tiền chung đã tăng lên tới 9,9%.

Tăng mạnh lãi suất

Theo đó NHTW của 19 quốc gia sử dụng đồng tiền chung euro hôm 27/10 đã quyết định tăng lãi suất tiền gửi thêm 75 điểm cơ bản, lần tăng thứ hai với biên độ lớn như vậy, đưa lãi suất lên 1,5% - mức cao nhất kể từ năm 2009. Trước đó ECB đã duy trì lãi suất tiền gửi dưới 0% trong 8 năm trước khi bắt đầu chu kỳ thắt chặt tiền tệ vào tháng 7/2022.

Mặc dù ECB đã bỏ tham chiếu trong tuyên bố chính sách của mình về khả năng tăng lãi suất tại "một số" cuộc họp nữa, song phát biểu tại buổi họp báo sau cuộc họp chính sách tháng 10, Chủ tịch ECB Christine Lagarde vẫn khẳng định: "Chúng tôi sẽ tăng lãi suất lên cao hơn nữa trong tương lai". "Vì vậy, nó có thể là tại một vài cuộc họp". Bà cũng cho biết ECB có thể phải "vượt ra ngoài" bình thường hóa, một bình luận cho thấy rằng lãi suất có thể được tăng đến mức bắt đầu hạn chế các hoạt động kinh tế.

ecb quyet tam kiem che lam phat
Chủ tịch ECB Christine Lagarde nhấn mạnh nhiệm vụ của ECB là kiểm soát lạm phát

Mặc dù mức lãi suất trung hòa là bao nhiêu, đến nay vẫn chưa được xác định, song hầu hết các nhà hoạch định chính sách dường như xem nó ở mức khoảng 1,5-2%, có nghĩa ECB hiện đang ở cuối phạm vi ước tính.

Bên cạnh đó, bình luận của bà Christine Lagarde rằng, một phần "đáng kể" của việc thắt chặt chính sách đã được thực hiện, được các thị trường xem như là một dấu hiệu cho thấy lãi suất có thể không tăng cao như dự báo trước đây. Theo đó hiện các nhà đầu tư chỉ kỳ vọng lãi suất đạt đỉnh ở mức khoảng 2,6% trong năm tới, thấp hơn kỳ vọng gần 3% trước đó.

“Chúng tôi dự kiến sẽ có thêm một đợt tăng lãi suất chính sách 50 điểm cơ bản vào tháng 12 và chuyển đổi sang hướng tăng 25 điểm cơ bản vào năm tới khi chu kỳ tăng lãi suất xoay vòng từ bình thường hóa chính sách sang thắt chặt chính sách”, Konstantin Veit - Giám đốc danh mục đầu tư của PIMCO cho biết.

Thu hẹp bảng tài sản

Bên cạnh việc tăng lãi suất, ECB cũng đã thực hiện bước đi đầu tiên trong việc thu hẹp bảng cân đối 8,8 nghìn tỷ euro, một động thái có khả năng làm tăng chi phí đi vay hơn nữa.

Theo đó, ECB đã "siết lại" khoản tài trợ mà họ cung cấp cho các ngân hàng thông qua các khoản vay 3 năm siêu rẻ trị giá 2,1 nghìn tỷ euro được gọi là Hoạt động tái cấp vốn dài hạn có mục tiêu (Targeted Longer-Term Refinancing Operations - TLTRO). Động thái này sẽ tăng chi phí đi vay trong thời gian còn lại của công cụ này, tạo áp lực buộc các ngân hàng phải trả nợ sớm hơn.

TLTRO ra đời trong bối cảnh ECB muốn khuyến khích các ngân hàng đẩy mạnh cho vay trong bối cảnh lạm phát thấp dai dẳng, bằng cách cho các ngân hàng vay với lãi suất bằng 0 hoặc thậm chí âm. Tuy nhiên, giờ đây các ngân hàng có thể chỉ cần gửi tiền mặt TLTRO vào ECB và hưởng lợi khi ECB tăng lãi suất tiền gửi.

Vì thế ECB cần phải siết chặt lại TLTRO. Hơn nữa thanh khoản dồi dào cũng đang khiến lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm xuống, qua đó cản trở việc truyền dẫn tác động tăng lãi suất của ECB qua ngân hàng đến tới các doanh nghiệp và hộ gia đình.

Theo đó, các ngân hàng hiện sẽ phải trả một mức lãi suất bằng lãi suất tiền gửi hoặc lãi suất tái cấp vốn chính của ECB từ ngày 23/11, tùy thuộc vào hoạt động cho vay của họ. Cả hai đều cao hơn lãi suất thị trường hiện tại, điều này sẽ khuyến khích các ngân hàng trả nợ cho ECB.

Chưa dừng lại ở đó, theo bà Lagarde, mặc dù cho đến nay việc giảm nắm giữ trái phiếu chính phủ của ECB vẫn chưa được thảo luận, nhưng việc thảo luận về chủ đề đó có thể sẽ sớm bắt đầu. Bà cho biết các nhà hoạch định chính sách sẽ thảo luận "các nguyên tắc chính" về cách thu hẹp Chương trình Mua tài sản trị giá 3,3 nghìn tỷ euro tại cuộc họp chính sách tháng 12 của họ.

Nhấn mạnh ưu tiên kiểm soát lạm phát, bà Christine Lagarde cũng phản bác những chỉ trích rằng việc tăng lãi suất nhanh chóng đe dọa đẩy khu vực đồng euro vào suy thoái và cho rằng công việc của ECB là kiểm soát lạm phát. "Mọi người phải làm công việc của họ. Công việc của chúng tôi là ổn định giá cả", bà nói. "Chúng tôi phải làm những gì chúng tôi phải làm. NHTW phải tập trung vào nhiệm vụ của mình".

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700