ECB sẽ không thảo luận về thắt chặt chính sách, dự báo lạm phát vẫn thấp hơn mục tiêu

09:02 | 11/06/2021

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hôm thứ Năm đã không đưa ra tín hiệu nào về việc họ có thể bắt đầu giảm chương trình kích thích vì đại dịch, đồng thời dự báo ​​lạm phát trước mắt sẽ vẫn duy trì dưới mục tiêu.

ecb se khong thao luan ve that chat chinh sach du bao lam phat van thap hon muc tieu

“Lạm phát đã gia tăng trong những tháng gần đây, phần lớn là do cách thống kê, các yếu tố nhất thời và sự gia tăng giá năng lượng. Nó có thể sẽ tăng hơn nữa trong nửa cuối năm, trước khi giảm do các yếu tố tạm thời biến mất”, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết tại cuộc họp báo hôm thứ Năm, sau cuộc họp chính sách thường kỳ của ngân hàng này.

“Các chuyên gia dự báo của chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ tăng trong suốt kỳ được dự báo, mặc dù áp lực giảm dần trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn suy thoái. Lạm phát toàn phần dự kiến ​​sẽ vẫn ở dưới mục tiêu của chúng tôi”, bà nói thêm.

Dữ liệu gần đây cho thấy lạm phát đã tăng mạnh tại khu vực chung đồng euro gồm 19 thành viên, cao hơn mục tiêu của ECB là gần bằng nhưng dưới 2%. ECB trước đó cho biết họ dự báo ​​giá cả sẽ tăng vào năm 2021, nhưng chỉ là tạm thời.

Dữ liệu lạm phát đã đặt ra câu hỏi về tương lai của chính sách tiền tệ trong khu vực đồng euro, và các nhà đầu tư muốn có câu trả lời về việc ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục duy trì chính sách kích thích tiền tệ của mình trong bao lâu nữa.

ECB cam kết mua 1,85 nghìn tỷ euro (tương đương 2,2 nghìn tỷ USD) trái phiếu cho đến tháng 3/2022 - một phần của Chương trình Mua khẩn cấp vì đại dịch (PEPP).

Vào thứ Năm, ECB đã quyết định giữ nguyên chính sách kích thích này, đồng thời cũng không thay đổi lãi suất cực thấp của họ.

ECB đã công bố bản cập nhật về triển vọng kinh tế trong khu vực đồng euro vào thứ Năm. Ngân hàng trung ương này dự báo ​​tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khu vực là 4,6% cho năm 2021 và 4,7% cho năm 2022 - cả hai đều đã được điều chỉnh tăng lên so với dự báo trước đó.

Về lạm phát, ECB cũng đưa ra các dự báo mới, cao hơn so với đánh giá trước đó của họ vào tháng 3, với lạm phát năm nay có thể đạt 1,9% và năm sau là 1,5%.

Carsten Brzeski, người đứng đầu cơ quan nghiên cứu về vĩ mô tại ING Đức, viết trong một bản tin rằng ECB rõ ràng không có bất kỳ cuộc thảo luận nào về thắt chặt chính sách tại cuộc họp hôm thứ Năm, do đó đã chọn giữ nguyên chính sách.

Andrew Kenningham, nhà kinh tế trưởng về châu Âu tại Capital Economics, thì cho rằng ECB vẫn có thể thiết kế một chương trình giảm dần dần kích thích trong nửa cuối năm nay.

“Nhưng, bức tranh lớn là chính sách sẽ vẫn có khả năng thích ứng cao trong một thời gian dài sắp tới", ông nói thêm.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.645 22.875 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.675 22.875 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.653 22.873 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.680 22.860 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.680 22.860 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.668 22.883 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.659 22.869 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.860 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.700 22.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.400
51.300
Vàng nữ trang 9999
50.000
51.000