ECB sẽ mở rộng kích thích vào tháng 12 tới

10:48 | 12/11/2020

Mua trái phiếu nhiều hơn, giảm chi phí cho các ngân hàng và thậm chí thay đổi lãi suất… Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã phát đi tín hiệu có thể làm tất cả trong cuộc họp chính sách tháng 12 khi mà khu vực đồng tiền chung euro đang phải vật lộn với làn sóng lây nhiễm coronavirus thứ hai.

Giảm chi phí vốn cho các ngân hàng

Tại cuộc họp chính sách diễn ra hồi cuối tháng 10, ECB đã quyết định giữ nguyên các mức lãi suất chính sách là lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay cận biên và lãi suất tiền gửi cơ sở lần lượt ở mức 0,00%; 0,25% và -0,50% và dự kiến sẽ duy trì các mức lãi suất này như hiện tại hoặc thấp hơn cho đến khi lạm phát hội tụ đến mục tiêu gần sát 2% của ECB. ECB cũng giữ nguyên quy mô Chương trình mua tài sản khẩn cấp thời đế ứng phó với đại dịch (PEPP) ở mức 1.350 tỷ EUR và kéo dài chương trình cho đến ít nhất là cuối tháng 6/2021…

Tuy nhiên ECB ám chỉ rằng họ có thể thực hiện nhiều biện pháp kích thích tiền tệ hơn vào tháng 12 tới. Thông báo phát đi sau cuộc họp chính sách này nếu rủi ro, những dự báo kinh tế vĩ mô mới vào tháng 12 sẽ cho phép cơ quan này đánh giá lại toàn diện triển vọng kinh tế và cân bằng rủi ro. Trên cơ sở đánh giá cập nhật này, Hội đồng Thống đốc ECB sẽ hiệu chỉnh lại các công cụ của mình để ứng phó với tình hình đang diễn ra và đảm bảo rằng các điều kiện tài chính vẫn thuận lợi để hỗ trợ phục hồi kinh tế cũng như chống lại tác động tiêu cực của đại dịch đối với lạm phát.

ecb se mo rong kich thich vao thang 12 toi
ECB đang để ngỏ khả năng tăng cường nới lỏng tiền tệ

“Chủ tịch ECB Christine Lagarde đã gửi một thông điệp rõ ràng rằng: các biện pháp kích thích hơn nữa sẽ được công bố vào tháng 12 và sẽ có một gói các biện pháp”, Marco Valli - Trưởng bộ phận nghiên cứu vĩ mô của UniCredit cho biết.

Đặc biệt các nhà phân tích kỳ vọng Chương trình mua tài sản khẩn cấp để ứng phó với đại dịch (PEPP) sẽ được kéo dài thời gian và mở rộng quy mô tại cuộc họp tháng 12, thậm chí ECB có thể “còn tiến xa hơn nữa”.

“Việc thúc đẩy và mở rộng PEPP gần như là chắc chắn và chúng tôi cũng nhận thấy nhiều khả năng các điều khoản có lợi hiện tại của TLTRO (công cụ tái cấp vốn dài hạn có mục tiêu)… cũng sẽ được gia hạn”, Valli nói, đề cập đến việc nới lỏng các điều kiện cung ứng khoản vay cho các ngân hàng.

Đầu năm nay, ECB đã quyết định đẩy mạnh tài trợ vốn cho các ngân hàng với mục tiêu khuyến khích các ngân hàng tăng cường cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ. Theo đó các ngân hàng thương mại càng đẩy mạnh cho vay đối với các hộ gia đình và các công ty phi tài chính, càng có cơ hội vay vốn với lãi suất hấp dẫn từ ngân hàng trung ương. Florian Hense - Nhà kinh tế học tại Berenberg cũng gợi ý rằng “ECB có thể kéo dài thời gian áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất hiện nay là -1%” như một phần của gói tháng 12. Thêm vào đó, ECB cũng có thể cho phép các ngân hàng định giá lại các khoản vay hiện tại xuống mức lãi suất cho vay thấp nhất là -1%, thay vì chỉ áp dụng mức lãi suất này cho các khoản cho vay mới, Hense nói thêm.

Tăng mua trái phiếu, giảm lãi suất

Ngay cả trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, ECB cũng đã nỗ lực thúc đẩy nền kinh tế khu vực đồng euro bằng chương trình mua trái phiếu thông thường. Cụ thể, Chương trình mua tài sản khu vực công (PSPP) được tiếp tục như là một công cụ khác để thúc đẩy nền kinh tế của khu vực.

Một số nhà phân tích kỳ vọng chương trình mua trái phiếu này cũng sẽ được gia hạn bên cạnh Chương trình PEPP. Claus Vistesen - nhà kinh tế học của Pantheon Macro ước tính, mức tăng 150 tỷ euro cho chương trình này, “có thể sẽ được bổ sung trong 12 tháng đến cuối năm 2021”.

Không chỉ vậy ECB cũng có thể cắt giảm thêm lãi suất, cho dù khả năng này là khá nhỏ. ECB lần đầu tiên áp dụng lãi suất âm là vào năm 2014 để ứng phó với cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực. Lãi suất âm cũng là một công cụ chính sách tiền tệ, nhằm hỗ trợ các ngân hàng cho vay và thúc đẩy nền kinh tế thực.

“Chính sách lãi suất có lẽ là phần khó nhất của gói giải pháp vào tháng 12 tới”, Marco Valli của UniCredit cho biết. “Trước cuộc họp chính sách tháng 10, chúng tôi nghĩ rằng việc cắt giảm lãi suất huy động sẽ không nằm trong chương trình nghị sự của ECB trong một thời gian… Chúng tôi không thay đổi quan điểm của mình vào lúc này, nhưng những phát biểu của bà Lagarde làm tăng rủi ro cho dự báo của chúng tôi”, ông nói.

Hense từ Berenberg cũng nói rằng “việc cắt giảm lãi suất tiền gửi dưới mức -0,5% hiện tại dường như ít khả năng hơn”. Nhưng nếu tình hình kinh tế xấu hơn, ECB thậm chí có thể hành động sớm hơn. Andrew Kenningham - Nhà kinh tế trưởng về châu Âu tại Capital Economics cho biết: “Cấp tiến hơn, và sớm hơn, hành động cũng có thể thực hiện được”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.250 23.536 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.200
Vàng SJC 5c
66.200
67.220
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000