ECB sẽ tăng cường mua trái phiếu để đối phó với lợi suất tăng cao

09:41 | 12/03/2021

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết họ có kế hoạch tăng lượng mua trái phiếu "đáng kể" trong quý tới, sau khi lợi tức tăng.

Hôm thứ Năm, ECB đã tuyên bố không thay đổi Chương trình Mua hàng Khẩn cấp vì Đại dịch (PEPP) với tổng số 1,85 nghìn tỷ euro (2,21 nghìn tỷ USD), kéo dài đến tháng 3/2022. Tuy nhiên, lượng mua trái phiếu của ngân hàng trung ương trong quý đầu tiên thấp hơn bình thường và tổ chức có trụ sở tại Frankfurt cho biết họ dự kiến ​​sẽ tăng lượng mua trong tương lai.

“Dựa trên đánh giá chung về các điều kiện tài chính và triển vọng lạm phát, Hội đồng Thống đốc dự kiến ​​các giao dịch mua theo PEPP trong quý tới sẽ được tiến hành với số lượng lớn hơn đáng kể so với những tháng đầu năm nay”, ECB cho biết trong một tuyên bố.

ecb se tang cuong mua trai phieu de doi pho voi loi suat tang cao
Chủ tịch ECB Christine Lagarde

Lợi tức trái phiếu trong khu vực đồng euro đã tăng kể từ tháng Hai, cùng lúc với lợi tức trái phiếu của đối tác Hoa Kỳ cũng cao hơn sau khi Tổng thống Joe Biden công bố một kế hoạch kích thích tài chính lớn. Nó dẫn đến lo ngại rằng lợi suất tăng có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế ở châu Âu do việc tăng chi phí đi vay của các nước đang phải vật lộn với những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng Covid-19.

Tuy nhiên, các thị trường đã được trấn an bởi tuyên bố của ECB hôm thứ Năm, và lợi suất trái phiếu đã giảm trong khu vực đồng euro. Việc ngân hàng trung ương cam kết mua nhiều hơn sẽ hỗ trợ giá trái phiếu và do đó giúp giảm chi phí phát hành nợ. Lợi tức trái phiếu tỷ lệ nghịch với giá trái phiếu.

“Hội đồng Thống đốc sẽ mua trái phiếu một cách linh hoạt theo điều kiện thị trường và ngăn chặn việc thắt chặt các điều kiện tài chính không phù hợp, nhất quán chống lại tác động của đại dịch đến diễn biến lạm phát”, ECB cho biết thêm trong tuyên bố của mình.

Phát biểu với CNBC vào đầu tháng này, thành viên Jens Weidmann của ECB nói rằng những thay đổi trong chương trình mua trái phiếu chính phủ của ngân hàng trung ương có thể được thực hiện nhằm nỗ lực xoa dịu thị trường trái phiếu.

Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp đối với ngân hàng trung ương, do không thể can thiệp trực tiếp để xử lý vấn đề với lợi tức trái phiếu vì đây không phải là một phần nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. Bất kỳ động thái nào như vậy có thể làm dấy lên những lời chỉ trích rằng ECB đang bảo vệ các chính phủ khu vực đồng euro khỏi các tác động từ thị trường và làm tăng kỳ vọng rằng nó luôn có thể hành động khi lợi suất tăng.

“Chúng tôi không kiểm soát đường cong lợi suất”, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Năm.

Ngân hàng trung ương cũng quyết định giữ nguyên lãi suất.

Triển vọng kinh tế

Hồi tháng 12 năm ngoái, ECB dự báo tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong khu vực đồng euro sẽ tăng 3,9% trong năm nay và 4,2% vào năm 2022. Trong ước tính mới nhất của mình vào thứ Năm, ECB đã điều chỉnh tăng trưởng GDP cho năm 2021 lên 4% và lên 4,1% vào năm 2022.

“Các chiến dịch tiêm chủng đang được triển khai, cùng với việc nới lỏng dần các biện pháp ngăn chặn sẽ củng cố kỳ vọng về sự phục hồi vững chắc trong hoạt động kinh tế trong năm 2021”, Lagarde nói.

Tuy nhiên, bà lưu ý rằng đại dịch vẫn đang tiếp tục gây rủi ro cho nền kinh tế và người tiêu dùng vẫn thận trọng về triển vọng sắp tới.

“Nhìn chung, những rủi ro xung quanh triển vọng tăng trưởng khu vực đồng euro trong trung hạn đã trở nên cân bằng hơn”, Lagarde nói, đề cập đến các chiến dịch tiêm chủng, kích thích tài chính và triển vọng tốt hơn cho nhu cầu toàn cầu.

Một số quốc gia EU vẫn trong tình trạng phong tỏa và những quốc gia khác vẫn có những cách ly xã hội cứng rắn. Ngoài ra, việc triển khai vắc-xin Covid còn chậm trong khu vực. Điều này có thể gây thêm áp lực lên 19 nền kinh tế khu vực đồng euro và cản trở sự phục hồi kinh tế của họ.

ECB đã kêu gọi các chính phủ đẩy mạnh các giải pháp tài khóa của mình, cho rằng gánh nặng không thể chỉ nằm trên vai của ngân hàng trung ương. Liên minh châu Âu đã đồng ý với một gói kích thích tài khóa lớn chưa từng có vào năm ngoái, nhưng những khoản tiền này sẽ chỉ được giải ngân từ mùa hè này trở đi.

Hôm thứ Năm, Lagarde đã nói về “tầm quan trọng của việc các nguồn tài chính này cần được sử dụng nhanh chóng”.

Về lạm phát, ECB dự báo ​​sẽ có một số biến động trong những tháng tới.

“Trên cơ sở giá dầu kỳ hạn đang tăng, lạm phát có khả năng cao hơn trong những tháng tới. Nhưng, một số biến động dự kiến ​​sẽ diễn ra trong năm phản ánh sự thay đổi động lực của các yếu tố hiện đang đẩy lạm phát lên cao. Lagarde cho biết những yếu tố này có thể giảm dần tác động lên lạm phát vào đầu năm tới.

ECB ước tính tỷ lệ lạm phát là 1,5% vào năm 2021 và 1,2% vào năm 2022. Nhiệm vụ của ECB là giữ lạm phát thấp hơn nhưng gần 2% trong trung hạn.

Phản ứng của thị trường

Cổ phiếu các ngân hàng khu vực đồng Euro đã chứng kiến một đợt bán tháo sau các bình luận của ECB. Nó đã giảm hơn 1% ngay sau khi ngân hàng trung ương thông tin về các quyết sách mới.

Lập trường ôn hòa của ngân hàng trung ương có thể có nghĩa là các nhà cho vay trong khu vực đồng Euro sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong môi trường lãi suất thấp.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.460 22.770 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.490 22.770 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.470 22.770 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.520 22.720 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.720 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.485 22.830 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.500 22.780 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.520 22.720 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.540 22.720 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.900
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.900
62.550
Vàng SJC 5c
61.900
62.570
Vàng nhẫn 9999
53.700
54.400
Vàng nữ trang 9999
52.464
53.564