ECB ưu tiên chống lạm phát

08:07 | 12/09/2022

Các nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết, ECB phải tiếp tục tăng lãi suất, ưu tiên cuộc chiến chống lạm phát cao gây đau đớn, ngay cả khi điều đó phải trả giá cho tăng trưởng.

ECB hôm 8/9 đã quyết định tăng lãi suất với biên độ lớn chưa từng có là 75 điểm chỉ vài tuần sau khi cơ quan này đã gây bất ngờ cho thị trường với quyết định tăng lãi suất 50 điểm, gấp đôi mức dự kiến ban đầu. Chưa dừng lại ở đó, ECB còn để ngỏ khả năng sẽ tăng tiếp lãi suất trong những tháng tới khi lạm phát của khu vực đồng euro đang ở mức cao nhất trong gần 50 năm và có nguy cơ trở nên dai dẳng.

ecb uu tien chong lam phat
Ảnh minh họa

“Lạm phát vẫn ở mức cao không thể chấp nhận được”, Peter Kazimir - Thống đốc NHTW Slovakia cho biết. “Ưu tiên hiện nay là tiếp tục mạnh mẽ quá trình bình thường hóa chính sách tiền tệ”. Trong khi theo Thống đốc NHTW Hà Lan Klaas Knot, kỳ vọng lạm phát sẽ tiếp tục tăng trong những tháng tới. “Điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ gặp một vấn đề duy nhất: lạm phát”, Knot nói trong một cuộc phỏng vấn với đài phát thanh Hà Lan BNR. “Và điều đó sẽ có nghĩa là chúng ta sẽ phải tăng trưởng kinh tế chậm lại ít nhất một chút để giảm lạm phát”.

Cũng như nhiều NHTW khác trên toàn cầu, ECB đang lựa chọn công cụ tăng lãi suất để kéo giảm lạm phát cho dù cái giá phải trả là tăng trưởng chậm lại, thậm chí là nền kinh tế có nguy cơ rơi vào suy thoái.

Mặc dù một số người cho rằng việc tăng lãi suất bây giờ là vô ích vì cú sốc lạm phát gây ra bởi giá năng lượng cao và chính sách tiền tệ bất lực trước cú sốc từ phía cung. Nhưng Thống đốc NHTW Pháp Francois Villeroy de Galhau dường như phản đối quan điểm đó. Ông cho rằng, chỉ một nửa lạm phát hiện tại là do giá thực phẩm và năng lượng, cho thấy tốc độ tăng giá hiện đang mở rộng đến tất cả các bộ phận của nền kinh tế.

Trong khi đó phát biểu tại buổi họp báo sau quyết định tăng lãi suất hôm 8/9, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết, sẽ mất khoảng năm cuộc họp, bao gồm cả cuộc họp chính sách hôm 8/9 vừa qua, để ECB đạt được cái mà họ gọi là lãi suất trung hòa, mức lãi suất không kích thích hoặc làm chậm tăng trưởng. Điều đó cho thấy ECB sẽ còn tăng tiếp lãi suất tại mỗi cuộc họp chính sách từ nay cho đến đầu năm sau.

Tuy nhiên cả Thống đốc NHTW Hà Lan và Thống đốc NHTW Pháp cho rằng, không nhất thiết phải tăng mạnh lãi suất ở mức 75 điểm tại cuộc họp tháng 10. Chủ tịch ECB cũng nói rằng 75 điểm cơ bản không phải là tiêu chuẩn, mặc dù bà cũng từ chối loại trừ một bước tương tự vào tháng 10.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450