ECB và những đối sách với Covid-19

10:39 | 18/11/2020

Trong một bài phát biểu mới đây của bà Isabel Schnabel, thành viên hội đồng quản trị Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) với CNBC, cuộc suy thoái do coronavirus gây ra lần này rất khác với những cuộc suy thoái trước đây và điều này đặt ra những thách thức mới cho các ngân hàng trung ương và các nhà lập pháp.

ECB sẽ mở rộng kích thích vào tháng 12 tới
Triển vọng u ám của kinh tế Eurozone
ECB thảo luận về việc đồng euro đang mạnh lên, cho biết sẽ 'theo dõi sát' tỷ giá hối đoái

Cuộc khủng hoảng hiện tại đang ảnh hưởng nặng nề tới ngành dịch vụ, đây là ngành gần như đã bị tê liệt kể từ khi các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng trên toàn thế giới vào đầu năm nay. Mặc dù có một số cứu trợ trong những tháng mùa hè khi chính phủ các nước châu Âu nới lỏng việc giãn cách, nhiều nhà hàng, quán bar, quán cà phê, một số khách sạn và hầu hết các cửa hàng bán lẻ đã phải đóng cửa một lần nữa khi khu vực này chống chọi với làn sóng lây nhiễm lần thứ hai.

Pháp và Đức hiện đang sử dụng biện pháp giãn cách nghiêm ngặt toàn quốc gia

Cuộc suy thoái ngành dịch vụ lần này rất khác so với suy thoái thông thường. Và một vấn đề đặt ra là mức độ ảnh hưởng của nó nặng nề đến công ăn việc làm như thế nào và quá trình phục hồi sẽ mất bao lâu? Vấn đề này được đưa ra khi Chủ tịch ECB Christine Lagarde nhấn mạnh trong một bài phát biểu tuần qua rằng một số lượng lớn người bị mất việc làm vào mùa xuân đã rời bỏ lực lượng lao động và ngừng tìm việc cùng với 3,2 triệu công nhân được xếp vào nhóm "chán nản".

Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng ở khu vực đồng Euro - dữ liệu mới nhất thông báo tỷ lệ này ở mức 8,3% vào tháng 9 - tuy nhiên nó vẫn chưa đạt đến mức của các cuộc khủng hoảng trước đó, khi việc làm giảm đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp tăng. Tỷ lệ này đã vượt 12% vào năm 2013 trong cuộc khủng hoảng nợ của khu vực.

Ngoài ra, ECB cũng lo ngại về diễn biến cuộc khủng hoảng coronavirus ảnh hưởng đến các bộ phận dân cư khác nhau. Những gì thế giới đang chứng kiến đã cho thấy mức độ nghiêm trọng của coronavirus, nó tấn công các quốc gia rất khác nhau và mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của nó tại các  quốc gia cũng rất khác nhau. Điều này thực sự đặt ra những thách thức và bài toán mới cho ECB, chủ yếu là đối với khía cạnh tài khóa, nhưng tất nhiên, nó cũng phải tính đến cả chính sách tiền tệ.

Có bằng chứng cho thấy thanh niên và phụ nữ là hai trong số những nhóm bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong thời kỳ suy thoái này. Ví dụ, lao động trẻ có xu hướng có hợp đồng tạm thời, điều này khiến họ dễ sa thải hơn; và nhiều phụ nữ làm việc trong các khu vực nhạy cảm với tiếp xúc, nơi đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch. Nền kinh tế khu vực đồng Euro tăng trưởng 12,7% trong quý III/2020 - mức tăng trưởng kỷ lục nhất của nó khi các hạn chế được nới lỏng. Tỷ lệ này đã tăng sau mức sụt giảm 11,8% trong quý thứ hai, khi các biện pháp giãn cách nghiêm ngặt được áp dụng.

Tuần qua, bà Christine Lagarde cũng đã nhấn mạnh về tác động kinh tế tức thì của vắc-xin Covid-19, đồng thời cung cấp thêm chi tiết về những gì ECB có thể sẽ làm tiếp theo.

Mặc dù tin tức mới nhất về vắc-xin có vẻ đáng khích lệ nhưng ECB vẫn có thể phải đối mặt với các chu kỳ lặp lại của việc tăng tốc độ lây lan virus và phải thắt chặt các hạn chế cho đến khi đạt được khả năng miễn dịch trên diện rộng. Vì vậy, sự phục hồi có thể vẫn phụ thuộc vào tốc độ triển khai vắc-xin.

Pfizer và BioNTech đã công bố vào ngày 9/11 rằng, vắc-xin Covid-19 của họ có hiệu quả hơn 90% trong việc ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm, điều này đã thúc đẩy sự lạc quan rằng đại dịch có thể kết thúc sớm hơn.

Theo ông Klaas Knot, thành viên Hội đồng Thống đốc ECB, thông tin về vắc-xin là một tin rất tích cực nhưng việc hiện thực hóa tác động về kinh tế của nó có thể mất một thời gian. Việc tiêm chủng đại trà sẽ mất một khoảng thời gian đáng kể và điều đó có nghĩa là triển vọng kinh tế cho năm 2021 sẽ còn khó khăn trong một thời gian dài, ông nhấn mạnh thêm.

Tuy nhiên, kể từ tháng 9, chính phủ các nước đã tăng cường các biện pháp để ngăn chặn làn sóng lây nhiễm Covid-19 thứ hai. Ví dụ, Pháp và Đức, hai nền kinh tế lớn nhất sử dụng đồng Euro, hiện đang sử dụng biện pháp giãn cách nghiêm ngặt toàn quốc gia.

Bà Lagarde nhấn mạnh rằng, ECB đang thực hiện nhiều biện pháp kích thích tiền tệ hơn cho khu vực đồng Euro. ECB có thể đưa ra các điều kiện thuận lợi hơn cho các ngân hàng và mua thêm trái phiếu chính phủ. Điều quan trọng là khoản cho vay vẫn đủ mạnh khi cần thiết, đồng thời ECB cũng đang xem xét lại tất cả các công cụ hiện có. Có nhiều lý do khiến ECB không giảm lãi suất trong quá khứ và bây giờ họ phải kiểm tra xem liệu những lý do này có còn thích hợp hay không?

Vai trò của ECB đã nổi bật ngay khi cuộc khủng hoảng bắt đầu vì đã chọn biện pháp không cắt giảm lãi suất, trái ngược với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và Ngân hàng Trung ương Anh. Tất cả các quyết định chính sách tiền tệ của ECB luôn là phân tích chi phí - lợi ích và vì vậy họ phải xem xét tính hiệu quả của các biện pháp trong hoàn cảnh hiện tại và họ phải đánh giá về các tác dụng phụ và sẽ luôn lựa chọn những công cụ cân bằng tốt nhất.

Minh Đức

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.850 23.050 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.831 23.051 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.030 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.849 23.061 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.830 23.050 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.050
Vàng SJC 5c
56.450
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.000
Vàng nữ trang 9999
52.000
52.700