Eurozone: Lạm phát tháng Năm vượt mục tiêu của ECB

12:26 | 02/06/2021

Lạm phát tại khu vực đồng tiền chung euro trong tháng Năm đã vượt qua mục tiêu của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), làm tăng trách nhiệm giải trình của các nhà hoạch định chính sách - những người chấp nhận để giá cả cao hơn nhưng sẽ phải đối mặt với phản ứng dữ dội từ phía người tiêu dùng.

eurozone lam phat thang nam vuot muc tieu cua ecb Fed có thể sớm thu hẹp QE vì lạm phát
eurozone lam phat thang nam vuot muc tieu cua ecb ECB cam kết ngăn đà tăng của lợi suất trái phiếu
eurozone lam phat thang nam vuot muc tieu cua ecb

Lạm phát ở 19 quốc gia dùng chung đồng euro đã tăng tốc lên 2% vào tháng Năm, từ mức 1,6% trong tháng Tư, do chi phí năng lượng tăng cao nhất kể từ cuối năm 2018, theo dữ liệu được cơ quan thống kê Eurostat công bố hôm thứ Ba.

Mức tăng này là cao hơn mục tiêu "thấp hơn nhưng gần 2%" của ECB, đồng thời cũng cao hơn kỳ vọng 1,9% đưa ra từ một cuộc thăm dò của Reuters mới đây. Điều này có thể thúc đẩy các cuộc thảo luận xác định nhân tố tác động đến tăng giá là nền tảng hay tạm thời.

"Mọi người đều thấy đây là điều chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng vẫn đang khiến họ phải toát mồ hôi”, nhà kinh tế Bert Colijn của ING nói. "Lạm phát đang quay trở lại mạnh mẽ vào thời điểm tin tức về các nền kinh tế đã lạc quan hơn và thị trường lao động cũng khởi sắc sau khi mở cửa trở lại".

Tuy nhiên, tháng Năm có thể chưa phải là cao trào. Lạm phát có thể tăng lên gần 2,5% vào cuối năm khi sự phục hồi từ cuộc suy thoái kép do đại dịch gây ra và việc tăng giá hàng hóa gần đây cùng gia tăng áp lực.

Vì lẽ đó, để vượt qua giai đoạn này ECB đang phải đứng trước một thử thách về truyền thông. Ngân hàng trung ương này đã khẳng định đây không phải là hình thái lạm phát mà họ tìm kiếm suốt gần một thập kỷ không đạt mục tiêu của mình, vì vậy chính sách sẽ vẫn tiếp tục được nới lỏng trong nhiều năm tới.

Với ECB, họ coi lạm phát gia tăng gần đây chỉ là tạm thời. Các yếu tố thúc đẩy tăng giá sẽ giảm dần vào đầu năm tới và lạm phát sẽ thấp hơn mục tiêu trong những năm tiếp theo, đặc biệt là khi tăng trưởng tiền lương - một động lực cần thiết của lạm phát bền vững, vẫn chưa đạt được.

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 8% trong tháng Tư, từ mức 8,1% trong tháng Ba, nhưng theo các nguồn dữ liệu độc lập, tỷ lệ này vẫn cao hơn mức trước khủng hoảng và trợ cấp của chính phủ có thể vẫn giữ ở mức thấp.

Giá dầu cao hơn đang che lấp đi xu hướng thực với lạm phát giá dịch vụ và hàng hóa lâu bền vẫn còn yếu - là các nhân tố có ý nghĩa hơn đối với ngân hàng trung ương, làm dấy lên tranh luận.

Thật vậy, lạm phát lõi - không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng, chỉ tăng 0,9% trong tháng Năm, từ mức tăng 0,8% trong tháng Tư. Nếu loại trừ thêm giá rượu và thuốc lá, mức tăng chỉ còn 0,9% so với 0,7%.

Chính sách của ECB cũng không hiệu quả đối với biến động giá trong ngắn hạn, đây là một lý do khác để ngân hàng trung ương này không đếm xỉa đến mức tăng đột biến của lạm phát trong năm nay.

Tất cả điều này hỗ trợ các lập luận để ECB duy trì chính sách nới lỏng khi các nhà hoạch định chính sách sẽ có cuộc họp tới đây vào ngày 10/6, ngay cả khi họ phải đối mặt với phản ứng dữ dội của người dân, đặc biệt là ở Đức, nơi lạm phát sẽ vượt quá 3% vào cuối năm nay do tăng thuế.

Vốn luôn chỉ trích mạnh nhất chính sách của ECB, một số người Đức bảo thủ lo ngại rằng ngân hàng trung ương này đang quá chủ quan trước lạm phát, và chính sách tiền tệ nới lỏng hiện tại có thể mở ra một thời kỳ giá cả cao hơn.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850