EVFTA: Cộng hưởng xung lực mới cho nền kinh tế

09:01 | 12/02/2020

Kết quả tính toán chỉ ra rằng EVFTA góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019- 2023); 4,57-5,3% (năm 2024-2028). Trong giai đoạn 2029-2033, hiệu ứng từ EVFTA sẽ góp phần làm GDP tăng thêm 7,07-7,72%.

Ngày 21/1/2020, Ủy ban Thương mại quốc tế (INTA) của Nghị viện Châu Âu (EP) đã bỏ phiếu thông qua khuyến nghị phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EU). Sự kiện này được xem là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phê chuẩn EVFTA và IPA, tạo bối cảnh và điều kiện thuận lợi cho cuộc bỏ phiếu toàn thể tại EP dự kiến diễn ra trong hai ngày 11-12/2/2020. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, việc EVFTA được bỏ phiếu phê chuẩn sau 7 năm đàm phán sẽ mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam gia nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

Cải thiện kinh tế cả ngắn hạn và dài hạn

Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, nếu các cam kết về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan được thực thi triệt để, kết hợp với một số yếu tố từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, việc Anh rời khỏi EU (Brexit), sự thay đổi chính sách của các nước, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ được cải thiện trong cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn… Kết quả tính toán chỉ ra rằng EVFTA góp phần làm GDP tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019- 2023); 4,57-5,3% (năm 2024-2028). Trong giai đoạn 2029-2033, hiệu ứng từ EVFTA sẽ góp phần làm GDP tăng thêm 7,07-7,72%.

Đặc biệt đây sẽ là một cú hích lớn cho xuất khẩu của Việt Nam. Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Lương Hoàng Thái cho biết, theo tính toán, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang EU sẽ tăng thêm 42,7% vào năm 2025 và  44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định. Xét về tổng kim ngạch của Việt Nam, dự kiến sẽ tăng trung bình 5,21%-8,17% (năm 2019-2023); 11,12-15,27% (năm 2024-2028) và lên tới 17,98-21,95% (năm 2029-2033).

Với EVFTA,  đầu tư từ các đối tác có nguồn gốc từ các nước phát triển sẽ tăng

Nông sản, chế biến chế tạo được xem là những ngành được hưởng lợi lớn từ việc xuất khẩu sang EU với dự kiến vào năm 2025, xuấu khẩu gạo tăng thêm 65%; dệt may tăng 67,5%, may mặc tăng 81%, giày da tăng 99%, vận tải thủy tăng gấp đôi, hàng không tăng 141%. Ngành tài chính bảo hiểm cũng được dự kiến có tốc độ tăng trưởng lên đến 21%.

Ở chiều ngược lại là nhập khẩu của Việt Nam từ EU sẽ tăng khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030. Xét về tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, dự kiến sẽ tăng trung bình 4,36-7,27% (năm 2019- 2023); 10,63-15,4% (năm 2024-2028) và lên 16,41-21,66% (năm 2029-2033). Nhóm hàng dự báo nhập khẩu tăng nhiều nhất từ EU là phương tiện vận tải, chiếm khoảng 12% tổng giá trị nhập khẩu tăng thêm; nhóm hàng máy móc thiết bị tăng 10%; dệt may, điện thoại và linh kiện điện tử tăng 6-7%; nông-lâm-thủy sản tăng 5%.

Cắt giảm thuế quan theo EVFTA cũng sẽ có tác động hai chiều đến nguồn thu NSNN theo hướng tích cực. Phần giảm thu  từ việc giảm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Phần tăng thu do có thu thêm từ thu nội địa dưới tác động tích cực của thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Dự kiến tổng mức giảm thu NSNN từ giảm thuế xuất nhập khẩu theo lộ trình EVFTA là 2.537,3 tỷ đồng. Mặt khác, thu NSNN tăng lên do thu nội địa từ tác động tăng trưởng của EVFTA là 7.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2020 – 2023 trong đó năm đầu tiên thu ngân sách có thể tăng thêm 150 tỷ đồng.

Thúc đẩy đầu tư và tạo việc làm

Cũng theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, EVFTA giúp tăng thêm việc làm khoảng 146.000/năm, tập trung vào những ngành thâm dụng lao động cao và có tốc độ xuất khẩu cao sang thị trường EU. Trong đó, mức tăng thêm việc làm ở  ngành dệt may tăng 71.300 (năm 2025) và 72.600 (năm 2030) mức tăng tương ứng so với năm 2018 là 2,3% và 2,4%. Ngành da giày có tốc độ tăng việc làm là 3,1%; 4,3% và 3,8% vào các năm 2020, 2025, 2030.

Với lĩnh vực đầu tư nước ngoài, ông Lương Hoàng Thái cho biết nghiên cứu chưa tính được con số chính sách tăng thêm do phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy nhiên, kỳ vọng về sự đổi mới thể chế, cải thiện môi trường đầu tư do thực hiện hiệp định sẽ tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với nhà đầu tư. Các cam kết rộng và sâu về đầu tư thay thế các hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và các nước thành viên EU sẽ giúp Việt Nam tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh ở Việt Nam, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư EU kinh doanh tại Việt Nam.

Các cam kết về thuận lợi hóa đầu tư cùng mức độ tự do hoá các ngành dịch vụ của Việt Nam dành cho các nhà cung cấp dịch vụ của EU tăng lên, đặc biệt là dịch vụ kinh doanh, dịch vụ môi trường, dịch vụ bưu chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển. Điều này sẽ  thúc đẩy dòng vốn FDI từ EU vào Việt Nam tăng trong thời gian tới. Đặc biệt với EVFTA,  đầu tư từ các đối tác có nguồn gốc từ các nước phát triển sẽ tăng do Việt Nam tăng cường mở cửa thị trường hàng hóa cũng như dịch vụ cho các DN EU. Điều này cũng sẽ tạo ra những động lực mới cho dòng vốn FDI vào Việt Nam. Cơ cấu lĩnh vực đầu tư cũng có thể thay đổi khi Việt Nam thu hút được các đối tác đầu tư mới và các lĩnh vực thu hút đầu tư được mở rộng. Với EVFTA, cơ cấu dòng vốn FDI vào những lĩnh vực đầu tư còn dư địa lớn tại Việt Nam và EU cũng có thế mạnh như năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên Lương Hoàng Thái cho biết “Việt Nam đã chủ động cải cách, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng đến việc thực hiện các tiêu chuẩn  các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong đó có EVFTA. Quốc hội Việt Nam cũng đã chính thức thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi và sẽ đưa vào thực thi năm 2021. Các nội dung quan trọng của cả 8 Công ước cơ bản Tổ chức Lao động quốc tế đều đã được phản ảnh trong các quy định của bộ luật này. Trên cơ sở đó, ngoài việc tạ ra các lợi ích kinh tế, chúng ta cũng xây dựng các thiết chế sao cho lợi ích được chia sẻ công bằng nhất đối với người lao động”.

Bộ Công thương đã có những bước chuẩn bị nhất định nhằm tận dụng được các ưu thế mà EVFTA mang lại. Như đã dự thảo các nội dung chính của Kế hoạch hành động để chuẩn bị cho việc thực thi  EVFTA. Các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm 5 nhóm chính: công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về EVFTA và thị trường của các nước EU; công tác xây dựng pháp luật, thể chế; nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực; chủ trương và chính sách đối với tổ chức công đoàn và các tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp; và chính sách an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nhất Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000