Fed cần cách tiếp cận khác để tăng lạm phát

12:55 | 04/01/2020

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể phải tiếp tục chống đỡ với tình trạng lạm phát quá thấp trong nhiều năm tới, Chủ tịch Fed San Francisco, bà Mary Daly, cho biết hôm thứ Sáu, và có thể cần một khuôn khổ chính sách mới để nâng lạm phát lên tới mục tiêu 2%.

fed can cach tiep can khac de tang lam phat
Chủ tịch Fed San Francisco, bà Mary Daly.

“Chúng tôi không hiểu nổi vì sao rất khó để tăng lạm phát trở lại”, Daly nói tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Kinh tế Mỹ ở San Diego.

Nhưng trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng toàn cầu đang chậm lại và dân số của hầu hết các nền kinh tế tiên tiến đang già đi, Daly nói, “cuộc chiến chống lại mức lạm phát thấp dưới mục tiêu sẽ luôn song hành với chúng ta, mà tôi tin rằng nó sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian dài hơn là chỉ vài năm”.

Kết cục là, bà cho biết, “một khung chính sách mới cần được hình thành để giúp tăng lạm phát.

Daly và các nhà hoạch định chính sách đồng nghiệp của bà ở Fed đang trong một cuộc rà soát kéo dài hơn một năm để đánh giá các cách tiếp cận chính sách mới, một trong số đó là Fed sẽ thúc đẩy lạm phát tăng rất cao để bù cho thời kỳ lạm phát thấp.

Fed dự kiến ​​sẽ công bố kết quả đánh giá vào giữa năm 2020.

Fed đã hạ lãi suất chuẩn ba lần vào năm ngoái, xuống mức mục tiêu từ 1,5% đến 1,75%, một phần để giữ cho lạm phát không quá thấp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối mặt với những thách thức gia tăng.

fed can cach tiep can khac de tang lam phat
Tỷ lệ lạm phát tại Mỹ giai đoạn từ 1990 đến 2019.

Giờ đây, ít nhất một số trong những thách thức đó, bao gồm căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, đã giảm bớt, các nhà hoạch định chính sách cho rằng họ sẽ giữ lãi suất đứng yên, nhằm hạn chế những tác động lớn đến triển vọng kinh tế.

Lạm phát thấp cho Fed dư địa để giữ lãi suất ở mức thấp và trong lúc đó có thể xem xét liệu nó có thể đẩy tỷ lệ thất nghiệp xuống đến mức nào, trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức thấp nhất trong 50 năm và thấp hơn mức mà các nhà kinh tế dự đoán, Daly nói.

“Rất có lợi khi mà bạn có thể cho phép nền kinh tế tăng tốc chậm dãi và xem xét tình trạng việc làm đầy đủ sẽ như thế nào”, theo Daly.

Nhưng đồng thời, lạm phát thấp đặt ra một thách thức, bà nói. “Chúng tôi đang thấy một số bằng chứng ban đầu rằng kỳ vọng lạm phát trong dài hạn cũng đang thấp xuống”.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400