FED có thể tăng lãi suất vào năm 2023?

10:14 | 17/03/2021

Ông Jerome Powell, Chủ tịch FED cho biết, cơ quan này sẽ không nâng lãi suất cho đến khi lạm phát vượt quá 2% và tin rằng họ có thể làm được điều đó cũng như dự đoán có thể kéo dài tỷ lệ lãi suất không đổi trong vòng hơn 3 năm.

fed co the tang lai suat vao nam 2023 Fed sẽ không sớm tăng lãi suất

Trong bối cảnh thị trường đang phục hồi như kỳ vọng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể buộc phải siết chặt chính sách tiền tệ sớm hơn dự kiến, giới lãnh đạo FED đã đưa ra một thông điệp tới các nhà đầu tư quan tâm tới việc tăng lợi suất trái phiếu là “đừng kỳ vọng bất cứ sự thay đổi nào cho đến khi nền kinh tế cải thiện rõ ràng”.

Ông Jerome Powell, Chủ tịch FED cho biết, cơ quan này sẽ không nâng lãi suất cho đến khi lạm phát vượt quá 2% và tin rằng họ có thể làm được điều đó cũng như dự đoán có thể kéo dài tỷ lệ lãi suất không đổi trong vòng hơn 3 năm. Lợi tức trái phiếu Mỹ tăng gần đây, cùng với Mỹ tích cực mở rộng chương trình tiêm chủng vắc-xin ngừa Covid-19, dự định tiếp tục tăng chi tiêu tài khóa và tiến tới mở cửa lại nền kinh tế sau đại dịch.

Các chuyên gia kinh tế cũng dự báo mức tăng trưởng khả quan cho nền kinh tế Mỹ trong 2 quý liên tiếp vào năm 2023. Tuy nhiên, điều họ mong chờ lại là sự công bố chính thức của FED về chính sách lãi suất.

fed co the tang lai suat vao nam 2023
Nhiều chuyên gia kinh tế mong đợi ông Powell tiếp tục công việc với tư cách là Chủ tịch FED

Một dự đoán tích cực như vậy cũng đã được đưa ra vào tháng 12/2020, sau đó, các nhà lập pháp Mỹ đã tung các gói hỗ trợ gần 3 nghìn tỷ USD kích thích nền kinh tế, bao gồm cả gói 1,9 nghìn tỷ USD mà Tổng thống Joe Biden đã ký thành luật ban hành vào thứ Năm tuần trước, cùng với việc tăng tốc tiêm chủng. Tất cả đang thúc đẩy mạnh mẽ triển vọng tăng trưởng kinh tế.

Theo chuyên gia kinh tế Lynn Reaser của Đại học Point Loma Nazarene, FED hiện đang thăm dò khả năng của bộ ba kích thích tài khóa lớn là hỗ trợ tiền tệ, nhu cầu bị dồn nén và tiêm chủng rộng rãi vắc-xin có tác động như thế nào đến nền kinh tế?

Cùng với đó, ông Jerome Powell cho rằng, nền kinh tế chưa đạt được tiến bộ cần thiết để kích hoạt sự thay đổi lớn trong thị trường trái phiếu và điều đó chắc chắn sẽ không xảy ra cho đến năm 2022. Thêm vào đó, thị trường lao động Mỹ vẫn chưa đạt được mục tiêu toàn dụng lao động, vì vậy còn quá sớm để thảo luận về việc cắt giảm hỗ trợ của FED trong bối cảnh vừa trải qua một năm khủng hoảng vì đại dịch. Quan điểm này cũng trùng với các chuyên gia kinh tế uy tín.

Mặc dù vậy, đa số các nhà kinh tế được khảo sát đã dự báo về khả năng Ngân hàng Trung ương sẽ phải tăng lãi suất vào cuối năm 2023.

Theo các dự báo được giám sát chặt chẽ của FED, nhiều khả năng mức tăng GDP sẽ đạt 5,8% vào năm 2021 (dự báo tháng 12/2020 của FED là 4,2%). Lạm phát được nhìn thấy cao hơn một chút so với 3 tháng trước, với tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 5% vào cuối năm.

Lợi tức trái phiếu kho bạc Mỹ cũng đã tăng mạnh trong tháng qua khi các dự báo tăng trưởng kinh tế được đưa ra.

Chủ tịch FED và các chuyên gia kinh tế cho rằng, sự gia tăng lợi tức này “dường như không có gì đáng lo ngại”.

Tuy nhiên, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang gần như chắc chắn sẽ giữ lãi suất gần bằng 0% và cam kết tiếp tục thu mua tài sản với mức hàng tháng khoảng 120 tỷ USD như hiện tại. Tuy nhiên, Ủy ban đã không nêu rõ những rủi ro thắt chặt các điều kiện tài chính hoặc đưa ra các hướng dẫn tăng cường về lãi suất hoặc thu mua trái phiếu. Mặc dù vậy, Ủy ban đã cam kết sẽ tiếp tục tốc độ thu mua tài sản hiện tại cho đến khi có “tiến bộ đáng kể hơn nữa” về việc làm và đạt mục tiêu lạm phát 2%.

Trong thời điểm hiện tại, Ủy Ban này sẽ tiếp tục ở chế độ “chờ và xem”, sẽ không có bất kỳ thay đổi lớn nào ngay cả trong tuyên bố của họ cũng như dự báo thời gian tăng lãi suất hoặc dự báo lạm phát, ông Scott Anderson, Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phương Tây cho biết.

Nhiệm kỳ Chủ tịch FED hiện tại của ông Powell sẽ kết thúc vào tháng 2 năm sau. Theo các nhà kinh tế học, các chính sách mang tính tương tác cao của ông có thể giúp ông có thêm thời gian làm việc thêm một nhiệm kỳ thứ hai. Hiện có nhiều mong đợi và ủng hộ ông Powell tiếp tục công việc với tư cách là Chủ tịch FED.

Các chuyên gia kinh tế cũng dự báo mức tăng trưởng khả quan cho nền kinh tế Mỹ trong 2 quý liên tiếp vào năm 2023. Tuy nhiên, điều họ mong chờ lại là sự công bố chính thức của FED về chính sách lãi suất.

Một dự đoán tích cực như vậy cũng đã được đưa ra vào tháng 12/2020, sau đó, các nhà lập pháp Mỹ đã tung các gói hỗ trợ gần 3 nghìn tỷ USD kích thích nền kinh tế, bao gồm cả gói 1,9 nghìn tỷ USD mà Tổng thống Joe Biden đã ký thành luật ban hành vào thứ Năm tuần trước, cùng với việc tăng tốc tiêm chủng. Tất cả đang thúc đẩy mạnh mẽ triển vọng tăng trưởng kinh tế.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400