Fed đã tiến gần mục tiêu lạm phát để tăng lãi suất

07:00 | 04/10/2021

Phát biểu với Reuters mới đây, Chủ tịch Fed Philadelphia Patrick Harker cho biết, Fed có thể sắp đạt được yêu cầu lạm phát để tăng lãi suất, nhưng có thể mất một năm hoặc lâu hơn trước khi mục tiêu việc làm được đáp ứng để cho phép Fed tăng lãi suất.

Theo ông, sau khi tăng cao trong năm nay vì đại dịch, lạm phát có khả năng sẽ giảm xuống gần mục tiêu 2% của Fed trong vài năm tới.

“Chúng tôi sẽ xem nó (lạm phát) diễn ra như thế nào trong vài tháng tới, nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã khá gần hoặc đã đạt được mục tiêu lạm phát của mình là trên 2% trong một thời gian để chúng tôi có thể có lạm phát trung bình 2% trong dài hạn”, Harker nói và nhấn thêm rằng: Nếu nền kinh tế tiếp tục được cải thiện như dự kiến thì sớm nhất là năm 2023 các mục tiêu lạm phát và việc làm tối đa của Fed có thể đạt được. Theo dự báo của ông, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ sẽ giảm xuống khoảng 4% vào cuối năm 2022; 3,8% vào năm 2023 và 3,6% vào cuối năm 2024.

fed da tien gan muc tieu lam phat de tang lai suat
Ảnh minh họa

“Tại thời điểm đó, tôi nghĩ rằng nền kinh tế đủ khỏe để chịu được một số mức tăng nhỏ về lãi suất của Fed”, Harker cho biết và nói thêm rằng: Lãi suất thấp có thể làm tăng rủi ro đối với sự ổn định tài chính và làm tổn thương những người tiết kiệm và những người có thu nhập cố định.

Nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng, Fed sẽ không sớm loại bỏ chính sách tiền tệ mang tính hỗ trợ hiện tại, thậm chí Fed vẫn sẽ bổ sung thêm sự hỗ trợ ngay cả sau khi họ bắt đầu giảm lượng mua vào trái phiếu từ tốc độ hiện tại là 120 tỷ USD/tháng. Việc giảm bớt các giao dịch mua tài sản đó sớm có thể mang lại cho Fed nhiều “tùy chọn” hơn trong năm tới để ứng phó với lạm phát tiếp tục cao hơn mục tiêu của ngân hàng trung ương. Theo ông, lạm phát tăng cao hiện tại “là một rủi ro cần được theo dõi”, đặc biệt nếu một số gián đoạn về nguồn cung phải mất một vài năm để giải quyết.

Đầu tuần này, Harker cho biết ông ủng hộ việc giảm bớt việc mua tài sản của Fed ngay từ tháng 11. Ông cũng cho biết Fed có thể bắt đầu tăng lãi suất vào cuối năm 2022 hoặc đầu năm 2023, tuy thuộc vào diễn biến của nền kinh tế Mỹ. Harker có thể bỏ phiếu trong các cuộc họp chính sách tiền tệ của Fed vào năm tới cho đến khi có người thay thế cho Chủ tịch Fed Boston Eric Rosengren - người đã tuyên bố nghỉ hưu vào đầu tuần này.

Số liệu do Bộ Thương mại Mỹ công bố hôm thứ Sáu tuần trước cho thấy, lạm phát tại nước này đã tăng lên cao nhất trong vòng 30 năm qua vào tháng 8 do nhu cầu tăng cao bất thường trong khi chuỗi cung ứng vẫn đang bị gián đoạn. Cụ thể chỉ số giá chi tiêu dùng cá nhân (PCE) lõi (không bao gồm thực phẩm và năng lượng) - một thước đo lạm phát ưa thích của Fed - đã tăng 0,3% trong tháng 8 so với tháng trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Đó là mức tăng hàng năm cao nhất kể từ tháng 5/1991.

Còn tính về tổng thể, chỉ số PCE tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất kể từ tháng 1/1991. Trong đó giá năng lượng tăng 24,9% và thực phẩm tăng 2,8%; giá hàng hóa tăng 5,5% trong khi giá dịch vụ tăng 3,6%.

Sự tăng tốc mạnh của lạm phát diễn ra khi thu nhập cá nhân chỉ tăng 0,2% trong tháng, cho thấy thu nhập thực tế của người dân Mỹ đang giảm khi lạm phát tăng. Trong khi đó, chi tiêu của người tiêu dùng tăng 0,8%, cao hơn một chút so với dự báo của giới chuyên gia là 0,7%. Hiện tổng số tiền tiết kiệm cá nhân tại Mỹ là 1,71 nghìn tỷ USD với tỷ lệ 9,4%, giảm so với tỷ lệ 10,1% trong tháng 7. Tỷ lệ tiết kiệm đạt đỉnh ở mức 33,8% vào tháng 4/2020 trong những ngày đầu của đại dịch khi Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho các cá nhân và doanh nghiệp đã bị đóng cửa để chống lại sự lây lan của Covid.

Mai Ngọc

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.560 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.600 22.880 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.865 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.650 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.830 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.610 22.902 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.595 22.875 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.640 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.660 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.950