Fed đang từng bước tiến tới thắt chặt chính sách

10:01 | 15/06/2021

Lần thứ hai trong chưa đầy một thập kỷ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang phải chuẩn bị để khởi động cuộc tranh luận về việc làm thế nào và khi nào sẽ chấm dứt chương trình mua tài sản khổng lồ, mà nó từng giúp đưa nền kinh tế vượt qua những vùi dập bởi khủng hoảng COVID-19 nhưng lại để lại một núi nợ công có thể tồn tại trên bảng cân đối kế toán trong nhiều năm tới.

Cuộc thảo luận đầu tiên của các quan chức Fed về cách thức và thời điểm cắt giảm chương trình mua trái phiếu với quy mô 120 tỷ đô la mỗi tháng có vẻ sẽ diễn ra tại cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày vào tuần này, trong các ngày 15-16/6.

"Tôi nghĩ cuộc thảo luận sẽ được khởi động tại cuộc họp chính sách của Fed vào thứ Ba và thứ Tư tuần này", Robin Brooks, nhà kinh tế trưởng tại Viện Tài chính Quốc tế, phỏng đoán. "Tôi nghĩ nó sẽ bắt đầu rất, rất thận trọng", ông nói và bổ sung rằng Chủ tịch Fed Jerome Powell sẽ không vội vàng đưa ra kết luận chính sách.

fed dang tung buoc tien toi that chat chinh sach
Trụ sở của Fed

Rủi ro về một "cú sốc", với các thị trường trở nên hỗn loạn, đã từng bùng phát trên thực tế cách đây 8 năm, khi các nhà hoạch định chính sách của Fed công bố thu hẹp quy mô mua trái phiếu mà nó vốn được xây dựng để đưa nền kinh tế vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008.

Lần này thì khác. Các quan chức Fed đã tiết lộ nhiều dấu hiệu về con đường giảm dần mua tài sản và các quan chức chủ chốt cũng đã báo hiệu về một cuộc thảo luận đang được chuẩn bị để tiến hành. Các thị trường cho đến nay cũng đã có những bước phát triển vượt bậc để hạn chế các cú sốc có thể diễn ra.

Fed cho biết vào tháng 12 năm ngoái rằng họ sẽ tiếp tục mua 80 tỷ USD trái phiếu kho bạc và 40 tỷ USD chứng khoán có thế chấp (MBS) mỗi tháng cho đến khi nền kinh tế đạt được "tiến bộ đáng kể hơn nữa", hướng tới mục tiêu việc làm toàn dụng và lạm phát 2% của ngân hàng trung ương. Việc mua trái phiếu giúp giảm chi phí đi vay dài hạn để khuyến khích đầu tư và thuê nhân công.

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc làm chậm lại sự lây lan của đại dịch COVID-19, phần lớn là do chương trình tiêm chủng được triển khai trên diện rộng, các doanh nghiệp tại Mỹ vẫn tuyển dụng ít hơn một nửa so với con số 2 triệu việc làm mà Powell đặt kỳ vọng tại cuộc họp chính sách tháng Tư của Fed.

Lo sợ lây nhiễm vi-rút, thị trường việc làm bị ảnh hưởng bởi đại dịch và trợ cấp thất nghiệp bổ sung là những yếu tố khiến người lao động không có việc làm, ngay cả khi các công ty cố gắng tăng nhân công trước một mùa hè dự kiến nhu cầu tiêu dùng bùng nổ. Hơn 9 triệu người Mỹ vẫn đang thất nghiệp.

Trong khi đó, lạm phát đã tăng nóng hơn dự kiến, mặc dù mức tăng này được thúc đẩy bởi các yếu tố được cho là tạm thời, chẳng hạn như tắc nghẽn sản xuất chất bán dẫn toàn cầu.

“Có rất nhiều điều kỳ lạ đang diễn ra ngay lúc này", Alejandra Grindal, nhà kinh tế quốc tế trưởng tại Ned Davis Research, nói. "Sẽ mất một vài tháng cho đến khi những vấn đề này được giải quyết và chúng ta có thể xác định rõ rằng liệu lạm phát tăng đột biến chỉ là tạm thời".

Hầu hết các nhà kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Reuters được công bố vào tuần trước cho biết họ dự đoán ​​Fed sớm nhất là đến tháng Tám mới có thể xác định được mốc thời gian giảm dần mua tài sản, và sẽ không có việc giảm mua tài sản trên thực tế cho đến đầu năm tới.

So với lần Fed giảm mua tài sản trước, lần này nền kinh tế Mỹ được cho là đang ở tình trạng tốt hơn. Tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, tổng sản phẩm quốc nội đang gần với giai đoạn trước khủng hoảng và những chính sách trợ cấp cũng được bơm mạnh hơn, bao gồm 2,8 nghìn tỷ USD viện trợ của chính phủ liên quan đến đại dịch trong sáu tháng qua, điều này đang thúc đẩy mức tăng trưởng kinh tế Mỹ nhanh nhất trong nhiều thập kỷ.

Tuy nhiên, Fed dường như vẫn ít háo hức hơn trong việc thắt chặt các bàn đạp chính sách tiền tệ so với 8 năm trước.

Một trong các lý do là hầu hết các ngân hàng trung ương, từng cảnh giác với chi phí của việc nới lỏng định lượng và mong muốn ngừng các biện pháp kích thích như vậy càng sớm càng tốt, đã quen với ý tưởng rằng mua trái phiếu là một phần trong bộ công cụ của họ.

Một bảng cân đối kế toán lớn, vấn đề cần được khắc phục khi tổng các khoản nắm giữ vượt quá khoảng 4 nghìn tỷ đô la, không còn là nguyên nhân cụ thể để phát đi cảnh báo, mặc dù với Mỹ thì quy mô bảng cân đối hiện đã gần gấp đôi con số nói trên.

Ngoài ra, kể từ năm ngoái, Fed đã hoạt động theo một khuôn khổ mới, và hiện nay họ đặt mục tiêu đưa lạm phát lên trên 2% một chút để bù đắp cho thời gian dài lạm phát dưới 2%, nhằm đạt mục tiêu toàn dụng lao động.

"Đó là một Fed khác, đó là một khuôn khổ khác", Gregory Daco, nhà kinh tế trưởng tại Oxford Economics, lưu ý.

Đã 15 tháng kể từ khi Fed cắt giảm lãi suất chuẩn ngắn hạn xuống gần 0 và bắt đầu mua trái phiếu để thúc đẩy nền kinh tế và thị trường tài chính, nhiều khả năng Fed sẽ không chạm đến vòng quay chính sách trong tuần này.

Powell có thể tại cuộc họp báo sau cuộc họp chính thức của Fed sẽ nhấn mạnh những gì ông đã làm trong nhiều tháng, và rằng nền kinh tế Mỹ vẫn còn lâu mới có thể phục hồi hoàn toàn.

Mặc dù vậy, các nhà hoạch định chính sách sẽ muốn bắt đầu thảo luận về những tiêu chí mà họ kỳ vọng nền kinh tế đạt được trước khi cắt giảm chương trình mua tài sản, Daco nói, bao gồm sự tham gia của lực lượng lao động và mức độ việc làm cùng với tỷ lệ thất nghiệp, hiện ở mức 5,8%.

Vào năm 2013, các nhà hoạch định chính sách của Fed đã đặt mục tiêu giảm tỷ lệ này xuống còn 7%.

Việc giảm dần mua tài sản có thể diễn ra theo cách khác. Thay vì giảm tốc độ mua cả hai loại tài sản - trái phiếu kho bạc và chứng khoán có thế chấp - một cách đồng đều, Fed có thể loại bỏ chương trình mua trứng khoán có thế chấp sớm hơn.

Tuy nhiên, các nhà kinh tế Phố Wall nhìn chung nhận thấy quá trình giảm dần này sẽ mất khoảng một năm để hoàn thành, tương tự như lần trước. Nhưng sau thời điểm đó, họ cho rằng Fed sẽ chỉ đợi thêm sáu tháng để tăng lãi suất trở lại, quảng thời gian bằng một nửa so với lần trước.

Fed sẽ công bố các dự báo kinh tế cập nhật hàng quý vào thứ Tư, và nó sẽ cho thấy quan điểm của các nhà hoạch định chính sách về triển vọng thất nghiệp, lạm phát và tăng trưởng kinh tế, cũng như khả năng tăng lãi suất lần đầu tiên.

Các dự báo mới nhất, được công bố vào tháng Ba, cho thấy hầu hết các nhà hoạch định chính sách của Fed không mong đợi việc tăng lãi suất trước năm 2024. Các nhà phân tích cho rằng sẽ không có thay đổi nào về điều đó tại cuộc họp trong tuần này.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.810 23.040 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.820 23.040 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.840 23.020 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.835 23.050 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.820 23.035 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.020 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.020 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.650
57.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.650
57.350
Vàng SJC 5c
56.650
57.370
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400