Fed dự kiến sẽ tăng nhanh lãi suất

08:09 | 25/04/2022

Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết hôm 21/4 rằng, việc tăng lãi suất thêm nửa điểm phần trăm có thể được đưa ra bàn thảo tại cuộc họp chính sách diễn ra ngày 3-4/5 tới, cuộc họp được dự báo là Fed sẽ thông qua kế hoạch về một loạt các đợt tăng lãi suất trong năm nay.

fed du kien se tang nhanh lai suat Fed đang hành động quyết liệt hơn
fed du kien se tang nhanh lai suat Tốc độ thắt chặt của Fed tùy thuộc tăng trưởng, lạm phát

Có thể tăng lãi suất nhanh hơn

Với việc lạm phát tại Mỹ cao gấp ba lần mục tiêu 2% của Fed, “việc hành động nhanh hơn một chút là thích hợp”, ông Jerome Powell nói trong một cuộc thảo luận về nền kinh tế toàn cầu tại cuộc họp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). “Năm mươi điểm cơ bản sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp tháng Năm”.

Chủ tịch Fed cũng cho biết là ông cảm thấy các nhà đầu tư hiện đang dự đoán một loạt các đợt tăng nửa điểm nói chung là “phản ứng thích hợp” đối với cuộc chiến chống lạm phát của Fed.

fed du kien se tang nhanh lai suat
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell

Những bình luận của ông đã làm dấy lên kỳ vọng là đường cong lãi suất sẽ dốc hơn nhiều so với dự kiến tại cuộc họp tháng 3 của Fed, khi mức dự báo trung bình của các nhà hoạch định chính sách lãi suất cho vay qua đêm tại Mỹ sẽ tăng lên 1,9% vào cuối năm nay.

Hiện các thị trường kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi suất lên phạm vi từ 2,75% đến 3% vào cuối năm, trong đó Fed sẽ thực hiện tăng lãi suất nửa điểm phần trăm tại ba cuộc họp sắp tới và tăng một phần tư điểm phần trăm trong ba cuộc họp khác.

Nếu điều đó xảy ra, nó sẽ đưa phạm vi lãi suất mục tiêu của Fed vượt qua mức “trung tính” và đi vào khu vực sẽ bắt đầu hạn chế hoạt động kinh tế, đánh dấu một trong những sự thay đổi nhanh hơn trong chính sách tiền tệ của Mỹ.

Không chỉ tăng lãi suất, Fed được dự kiến sẽ bắt đầu giảm lượng tài sản nắm giữ nhằm thắt chặt hơn nữa các điều kiện tín dụng đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình.

Lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm, kỳ hạn nhạy cảm nhất với kỳ vọng về chính sách của Fed, lần đầu tiên tăng trên 2,7% kể từ tháng 12/2018. Lợi suất tăng trên cả trái phiếu ngắn hạn và dài hạn đang làm tăng chi phí đối với nhiều loại các khoản vay - đáng chú ý nhất là khoản thế chấp 30 năm thường được sử dụng để tài trợ cho việc mua nhà - một kênh quan trọng mà qua đó Fed có ảnh hưởng đến nền kinh tế. Trong khi giá cổ phiếu giảm sâu sau phát biểu của ông Jerome Powell.

Nguy cơ suy thoái

Khả năng thắt chặt chính sách nhanh hơn của Fed đã khiến một số nhà kinh tế cảnh báo nguy cơ xảy ra suy thoái có thể lớn hơn nếu các doanh nghiệp và hộ gia đình cắt giảm chi tiêu nhiều hơn dự đoán khi chi phí đi vay tăng, hoặc giá cổ phiếu và các tài sản khác giảm giá trị và ăn sâu vào tài sản hộ gia đình.

“Tôi sẽ đặt xác suất chúng ta rơi vào suy thoái trong 12 tháng tới vào khoảng 1/3 và con số đó đang tăng lên”, Mark Zandi - Nhà kinh tế trưởng của Moody's Analytics cho biết vào đầu ngày 21/4 tại một phiên họp về lạm phát mà Chủ tịch Fed Powell cũng tham dự.

Với những đợt tăng lãi suất mạnh hơn, cộng thêm việc cắt giảm bảng cân đối kế toán, “việc Fed điều hướng mọi thứ một cách uyển chuyển và để nền kinh tế hạ cánh đúng kịch bản... sẽ khó khăn hơn rất nhiều”.

Bản thân Chủ tịch Fed Jerome Powell cũng thừa nhận Fed đang đi một ranh giới nhạy cảm giữa việc kiềm chế lạm phát và đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy thoái. “Mục tiêu của chúng tôi là sử dụng các công cụ của mình để đưa nhu cầu và cung phục hồi trở lại đồng bộ… và tránh sự suy giảm dẫn đến suy thoái kinh tế”, Powell nói.

Tuy nhiên điều đó là “rất thách thức” bởi việc kiềm chế tốc độ tăng nhanh của giá cả, vốn cao hơn nhiều tốc độ tăng lương của hầu hết người Mỹ, cũng trở thành một vấn đề chính trị cấp bách, là “hoàn toàn cần thiết”. “Các nền kinh tế sẽ không hoạt động nếu không có sự ổn định về giá cả”, ông nói thêm.

Bình luận về những phát biểu của ông Powell, Tim Ghriskey - Chiến lược gia danh mục đầu tư cấp cao của Ingalls & Snyder tại New York cho biết, Powell đang đe dọa rằng việc tránh được một cuộc suy thoái sẽ không dễ dàng.

Mặc dù cho tới gần đây, Fed vẫn kỳ vọng lạm phát sẽ giảm bớt với một số trợ giúp từ bên ngoài, khi nền kinh tế mở cửa trở lại sau đại dịch cho phép dòng chảy hàng hóa trên khắp thế giới trở lại bình thường. Tuy nhiên các biện pháp đóng cửa và kiểm soát dịch Covid-19 mới ở Trung Quốc và cuộc xung đột Nga - Ukraine khiến chuỗi cung ứng tiếp tục đứt gãy, đặc biệt là giá năng lượng tăng cao đang tạo áp lực lớn đến lạm phát trên toàn cầu.

Powell cho biết Fed không còn mong đợi bất kỳ sự trợ giúp nào nữa, nhưng sẽ dựa vào chính sách tiền tệ thắt chặt hơn để hạn chế nhu cầu hàng hóa và dịch vụ. “Chúng tôi đã kỳ vọng rằng lạm phát sẽ đạt đỉnh vào khoảng thời gian này và giảm xuống trong suốt thời gian còn lại của năm và sau đó là xa hơn nữa”, Powell cho biết. “Những kỳ vọng này đã bị thất vọng... Chúng tôi sẽ không trông chờ vào sự trợ giúp từ phía cung ứng. Chúng tôi sẽ tăng lãi suất”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750