Fed khẳng định sẽ nhanh chóng tăng lãi suất để hạ nhiệt lạm phát

07:30 | 11/05/2022

Chủ tịch Fed chi nhánh New York tin tưởng rằng việc tăng lãi suất sẽ "hạ nhiệt" nền kinh tế và đưa lạm phát xuống khoảng 2,5% trong năm tới, đồng thời duy trì một nền kinh tế vững mạnh.

fed khang dinh se nhanh chong tang lai suat de ha nhiet lam phat
Người dân mua sắm tại một cửa hàng ở New York (Mỹ). (Ảnh: THX/TTX)

Một quan chức cấp cao của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) ngày 10/5 khẳng định ngân hàng trung ương này có các công cụ phù hợp và sẽ hành động nhanh chóng để hạ mức lạm phát ở mức "cao không thể chấp nhận được" cũng như ổn định nền kinh tế.

Sau khi nâng lãi suất cho vay chuẩn thêm 0,75 điểm phần trăm với hai đợt điều chỉnh kể từ tháng 3/2022, Chủ tịch Fed chi nhánh New York John Williams cho biết ông hy vọng Ủy ban Thị trường mở Liên bang thuộc Fed “sẽ khẩn trương đưa lãi suất quỹ liên bang trở lại mức bình thường hơn trong năm nay”.

Phát biểu tại một hội nghị ở Eltville am Rhein, Đức, ông Williams bày tỏ tin tưởng rằng việc tăng lãi suất sẽ "hạ nhiệt" nền kinh tế và đưa lạm phát xuống khoảng 2,5% trong năm tới, đồng thời duy trì một nền kinh tế vững mạnh.

Ông Williams cho biết các đợt tăng lãi suất của Fed có hiệu quả "đặc biệt mạnh mẽ” trong chính những lĩnh vực có sự mất cân bằng lớn nhất và có dấu hiệu quá “nóng”.

Động thái này sẽ hạ nhiệt nhu cầu trong các lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất, giúp giảm sức nóng trên thị trường lao động cũng như giảm sự mất cân bằng giữa việc làm và nguồn cung lao động sẵn có.

Ngoài ra, quan chức Fed lưu ý rằng các ngân hàng trung ương lớn khác cũng đang hành động và những nỗ lực kết hợp sẽ giúp khôi phục sự cân bằng trên toàn cầu.

Fed đã cắt giảm lãi suất cho vay chuẩn xuống 0% khi đại dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát mạnh vào tháng 3/2020, như một phần trong nỗ lực ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế.

Nhưng khi nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng trưởng trở lại, tình trạng thiếu hụt nguồn cung toàn cầu đồng nghĩa với việc nhu cầu vượt xa nguồn cung.

Điều này khiến giá cả tăng vọt, đặc biệt là đối với nhà ở và ôtô. Tỷ lệ lạm phát vì thế cũng tăng ở mức chưa từng thấy kể từ những năm 1980, trong khi các nhà tuyển dụng phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân công.

Thêm vào đó, căng thẳng Nga - Ukraine cùng với việc Trung Quốc tái áp đặt các lệnh phong tỏa để kiểm soát dịch COVID-19 ở nhiều thành phố và trung tâm sản xuất lớn đã làm trầm trọng thêm những áp lực lạm phát đó.

Thị trường tài chính Mỹ đã phản ứng với các động thái điều chỉnh lãi suất của Fed, với lãi suất thế chấp tăng trên 5%.

Nhưng Phố Wall đã lao dốc trong vài phiên qua, với chỉ số S&P 500 giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một năm trong bối cảnh nhà đầu tư lo ngại về tác động của việc tăng lãi suất cũng như khả năng nền kinh tế suy thoái mạnh.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850