Fed sẵn sàng hơn cho việc tăng lãi suất

10:34 | 27/11/2021

Biên bản cuộc chính sách tháng 11 công bố hôm thứ Tư của Fed cho thấy, ngày càng có nhiều nhà hoạch định chính sách của Fed thể hiện quan điểm sẵn sàng đẩy nhanh việc loại bỏ chương trình mua tài sản nếu lạm phát cao được duy trì và có thể nhanh hơn về thời điểm tăng lãi suất.

fed san sang hon cho viec tang lai suat Ngày càng nhiều quan chức Fed ủng hộ giảm mua trái phiếu nhanh hơn, tăng lãi suất

Theo biên bản cuộc họp, nhiều quan chức tại cuộc họp ngày 2-3/11 đã thể hiện quan điểm quan ngại hơn với áp lực lạm phát cao có thể sẽ kéo dài hơn dự kiến. Lạm phát kéo dài những tháng qua và áp lực tăng giá vẫn tiếp tục đã khiến Nhà Trắng và Fed “ngạc nhiên” và có những phản ứng rõ ràng hơn. Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden và Chủ tịch Fed Jerome Powell vào đầu tuần này đã nhấn mạnh rằng sẽ thực hiện các bước để giải quyết giá cả tăng ở hầu hết các mặt hàng như hiện nay.

fed san sang hon cho viec tang lai suat
Ảnh minh họa

Mặc dù sự gia tăng lạm phát vào cuối mùa xuân và trong mùa hè vừa qua được coi là nhất thời, nhưng khi việc giá tiếp tục leo thang vào mùa thu khiến các nhà hoạch định chính sách không thể không quan ngại. “Nhiều thành viên lưu ý rằng, FOMC nên chuẩn bị để điều chỉnh tốc độ chương trình mua vào tài sản cũng như tăng phạm vi mục tiêu cho việc tăng lãi suất sớm hơn nếu lạm phát tiếp tục tăng cao mức mục tiêu”, biên bản cuộc họp vừa qua cho thấy.

Theo quyết định của cuộc họp chính sách vừa qua, Fed bắt đầu giảm quy mô chương trình mua tài sản 120 tỷ USD hàng tháng và dự kiến sẽ kết thúc hoàn toàn chương trình này vào tháng 6 năm tới. Tuy nhiên kể từ đó đến nay, ngày càng có nhiều lời kêu gọi của một số nhà hoạch định chính sách cho rằng cần đẩy nhanh tiến độ hơn nữa trong bối cảnh lạm phát tiếp tục cao và tỷ lệ tăng việc làm tiếp tục mạnh hơn. Những người theo quan điểm này cho rằng khi hành động như vậy sẽ giúp mang lại cho Fed sự linh hoạt hơn trong việc tăng lãi suất chuẩn qua đêm nếu cần. Theo Paul Ashworth, kinh tế gia trưởng Hoa Kỳ tại Capital Economics, biên bản này cho thấy rõ ràng FOMC đã nhận ra rằng, ngay cả khi lạm phát có giảm trở lại một chút thì vẫn có khả năng duy trì trên mức mục tiêu đặt ra trong một thời gian đáng kể nữa.

Tuy nhiên biên bản cũng cho thấy, một số nhà hoạch định chính sách khác tại cuộc họp vừa qua vẫn ủng hộ cách tiếp cận kiên nhẫn hơn, cho rằng cần có thêm dữ liệu trước khi có thể hành động mạnh hơn. Mặc dù vậy, tất cả đều đồng ý rằng Fed sẽ không ngần ngại thực hiện các hành động thích hợp để giải quyết áp lực lạm phát nếu nó gây ra rủi ro lâu dài hơn cho mục tiêu ổn định giá cả và việc làm. Các bước đi tiếp theo của Fed sẽ thế nào, liệu có nhanh và mạnh hơn hay không nhiều khả năng sẽ được khẳng định tại cuộc họp chính sách tiếp theo của Fed vào ngày 14-15/12 tới.

Theo FedWatch của CME Group, các nhà đầu tư hiện đang dự đoán với xác suất 53% là Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 5/2022, tăng từ mức chỉ 45% đưa ra trước đó. Chủ tịch Fed San Francisco Mary Daly - một trong những nhà hoạch định chính sách thận trọng nhất của Fed - hôm thứ Tư nhận định, bà đã sẵn sàng cho chương trình mua tài sản giảm quy mô nhanh hơn và có thể lãi suất chính sách sẽ tăng 1 đến 2 lần trong năm 2022.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.493 22.793 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.520 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.503 22.790 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.515 22.795 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.100
61.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.100
61.700
Vàng SJC 5c
61.100
61.720
Vàng nhẫn 9999
52.750
53.450
Vàng nữ trang 9999
52.450
53.150