Fed sẽ tăng lãi suất vào năm 2023, khởi động cuộc thảo luận về giảm mua tài sản

11:03 | 17/06/2021

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hôm thứ Tư đã phát đi tín hiệu sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ, khởi động các cuộc đàm phán về cách thức chấm dứt việc mua trái phiếu.

Thông báo những thay đổi trong chính sách có thể xảy ra sớm hơn dự kiến, các quan chức ngân hàng trung ương Mỹ đã chuyển lần tăng lãi suất dự kiến ​​đầu tiên của họ từ năm 2024 sang năm 2023, với 13 trong số 18 nhà hoạch định chính sách hy vọng lãi suất sẽ tăng; 11 người cho rằng cần tăng lãi suất hai lần với mỗi lần 25 điểm cơ bản; 7 quan chức Fed cho rằng lãi suất sẽ tăng cao hơn ngay trong năm tới.

Chủ tịch Fed Jerome Powell, tại buổi họp báo sau đó, cho biết cũng đã có các cuộc thảo luận ban đầu về thời điểm rút lại chương trình mua trái phiếu hàng tháng của Fed với trị giá 120 tỷ đô la, và thảo luận sẽ hoàn thành trong những tháng tới khi nền kinh tế tiếp tục hồi phục.

fed se tang lai suat vao nam 2023 khoi dong cuoc thao luan ve giam mua tai san
Trụ sở Fed

Bình luận của ông Powell và tuyên bố chính sách mới của Fed thể hiện các quan chức ngân hàng trung ương tin tưởng mạnh mẽ rằng sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ đang đi đúng hướng, giảm bớt lo ngại về đại dịch - một thực tế vẫn đang tồn tại trong đời sống và đã khiến cơ quan điều hành phải điều chỉnh chính sách tiền tệ kể từ tháng 3/2020.

Tuyên bố chính sách đã lược bớt nhận định lâu nay rằng cuộc khủng hoảng sức khỏe "tiếp tục đè nặng" lên nền kinh tế Mỹ. Thay vào đó, các quan chức Fed cho biết hệ quả từ chương trình tiêm chủng COVID-19 rộng rãi sẽ "tiếp tục hạn chế tác động" của đại dịch - ý kiến ​​được đưa ra một ngày sau khi New York và California dỡ bỏ hầu hết các hạn chế liên quan đến đại dịch.

"Thật tuyệt khi thấy nền kinh tế mở cửa trở lại... và thấy mọi người lấy lại cuộc sống của mình. Ai mà không muốn thấy điều đó?", Powell nói tại cuộc họp báo sau khi kết thúc cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày.

Cuộc họp vừa diễn ra ghi nhận là một sự thay đổi đối với các chính sách áp dụng trong thời kỳ khủng hoảng mà Fed đã theo đuổi kể từ khi đại dịch bùng phát, với việc cung cấp tín dụng rộng rãi và dễ dàng cho một nền kinh tế đang quay cuồng trước khả năng đi vào suy thoái.

Hôm thứ Tư, Powell nói rằng các cuộc đàm phán về số phận của chương trình mua tài sản của Fed và việc tăng lãi suất, bất cứ khi nào chúng xảy ra, nên được coi là một dấu hiệu của niềm tin vào sự phục hồi kinh tế đã diễn ra nhanh hơn tưởng tượng.

Fed hiện kỳ ​​vọng nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 7% trong năm nay.

"Việc đạt tới các điều kiện để tăng lãi suất sẽ báo hiệu rằng sự phục hồi mạnh mẽ và không còn cần thiết để giữ lãi suất gần bằng 0", Powell nói.

fed se tang lai suat vao nam 2023 khoi dong cuoc thao luan ve giam mua tai san
Biểu đồ "dot pot" cho thấy khả năng Fed sẽ tăng lãi suất sớm hơn dự kiến.

Thị trường chứng khoán Mỹ đã giảm sau khi Fed công bố báo cáo và các dự báo kinh tế, với chỉ số S&P 500 đóng cửa giảm khoảng 0,5%. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chuẩn đã tăng lên 1,58%, từ 1,49% trước khi báo cáo của Fed được phát hành, trong khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 2 năm có phiên tăng mạnh nhất kể từ tháng Hai, leo lên mức 0,21%.

Nhưng tuyên bố mới của Fed không hàm ý một sự thay đổi trong chính sách sắp xảy ra. Fed vào thứ Tư đã giữ mức lãi suất ngắn hạn chuẩn của mình gần bằng 0 và cho biết họ sẽ tiếp tục mua 80 tỷ USD trái phiếu kho bạc và 40 tỷ USD chứng khoán thế chấp mỗi tháng để tiếp tục hỗ trợ sự phục hồi của nền kinh tế.

Cam kết tiếp tục hỗ trợ thị trường việc làm phục hồi vẫn không thay đổi. Fed nhắc lại rằng họ muốn thấy "tiến bộ đáng kể hơn nữa" về việc làm trước khi đưa ra bất kỳ sự thay đổi chính sách nào.

Nền kinh tế vẫn thiếu hụt khoảng 7,5 triệu việc làm so với thời điểm bắt đầu đại dịch. Các quan chức Fed mô tả mức đó là "xa" so với mục tiêu của họ.

Powell từ chối đưa ra dự kiến về mốc thời gian cho bất kỳ sự thay đổi chính sách nào trong tương lai, nhấn mạnh rằng cần có nhiều dữ liệu kinh tế hơn để tiếp tục cân nhắc.

Tuy nhiên, các dự báo kinh tế mới dường như làm tăng thêm tính cấp bách cho kế hoạch của Fed.

Cùng với sự tăng trưởng cao hơn, giá cả cũng đang tăng lên. Lạm phát tại Mỹ hiện đang trên đà vượt mục tiêu 2% của Fed với khả năng có thể đạt tới 3,5% trong năm nay và tiếp tục tăng nhẹ trong hai năm tới.

Nhìn chung, Powell cho biết ông vẫn tin rằng những đợt tăng giá cao hơn dự kiến ​​gần đây là do đặc thù của việc mở cửa trở lại nền kinh tế Mỹ trị giá 20 nghìn tỷ đô la. Ông cho rằng tắc nghẽn nguồn cung đã làm cản trở hoạt động sản xuất, đồng thời nhiều nhân tố khác cũng đã khiến một số người lao động không có việc làm và dồn quỹ lương sang cho những người khác.

Ông nói thêm, một hệ quả của sự phục hồi và mở cửa trở lại nền kinh tế là "tạo ra nhu cầu lớn hơn là đẩy cung lên cao", nhưng sản xuất và thị trường lao động cuối cùng sẽ bình thường hóa.

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rủi ro lạm phát gia tăng có thể vẫn duy trì, theo đó của các nhà hoạch định chính sách của Fed đã hướng tới khả năng tăng lãi suất sớm hơn.

“Có một sự thay đổi đôi chút so với những tuyên bố gần đây của Fed rằng lạm phát tăng đột biến gần đây chỉ là tạm thời”, James McCann, Phó kinh tế trưởng tại Aberdeen Standard Investments, nói. “Áp lực gia tăng với Fed là phải giải thích sự thay đổi trong lập trường ra sao mà không để đánh rắn động cỏ”.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550