Fed vẫn cần phải “mạnh tay”

08:10 | 12/08/2022

Sau số liệu CPI tháng 7 giảm, một số nhà hoạch định chính sách của Fed vẫn khẳng định cần tiếp tục thắt chặt CSTT cho đến khi áp lực giá cả “hoàn toàn bị phá vỡ”.

Tại Hội nghị Aspen Ideas vừa diễn ra, Chủ tịch Fed Minneapolis Neel Kashkari cho biết, mặc dù CPI tháng 7 giảm là tin tức “đáng hoan nghênh” nhưng ông "không thấy bất cứ điều gì thay đổi" khi cần phải nâng lãi suất chính sách của Fed lên 3,9% vào cuối năm nay và lên 4,4% vào cuối năm 2023 (từ mức 2,25% - 2,5% hiện nay). Kashkari là một trong những thành viên “diều hâu” nhất của Fed, trong khi nhiều đồng nghiệp khác của ông tin rằng, việc thắt chặt chính sách ít hơn một chút có thể đủ để đạt được mục tiêu giúp giá cả được kiểm soát tốt hơn.

fed van can phai manh tay
Ảnh minh họa

Chủ tịch Fed San Francisco Mary Daly, trong một cuộc phỏng vấn với Financial Times, cũng cảnh báo rằng còn quá sớm để Fed "tuyên bố chiến thắng" trong cuộc chiến chống lạm phát hiện nay. Daly cho rằng mức tăng lãi suất 0,5% là "kịch bản cơ sở" mà quan chức này hình dung hiện nay, nhưng cũng không loại trừ mức tăng 0,75% lần thứ ba liên tiếp tại cuộc họp chính sách vào tháng 9.

Trong khi đó, nhìn nhận lạm phát ở mức cao là "không thể chấp nhận được", Chủ tịch Fed Chicago Charles Evans cho biết ông tin rằng Fed có thể sẽ cần nâng lãi suất chính sách lên mức 3,25% - 3,5% trong năm nay và lên 3,75% - 4% vào cuối năm tới. Charles Evans cho rằng CPI tháng 7 đánh dấu diễn biến tích cực đầu tiên về lạm phát kể từ khi Fed bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 3.

Các thị trường tài chính hiện đang định giá mức lãi suất cho vay cao nhất sẽ là 3,75% vào cuối năm, và có thể Fed sẽ phải bắt đầu cắt giảm lãi suất vào năm tới để chống lại sự suy yếu của nền kinh tế. Nhưng Chủ tịch Fed Minneapolis cho rằng viễn cảnh đó là không thực tế và cho biết các nhà hoạch định chính sách của Fed đang "đoàn kết" trong quyết tâm đưa lạm phát xuống mức mục tiêu 2%. “Nguy cơ suy thoái sẽ không ngăn cản tôi ủng hộ những gì cần thiết để đạt được như vậy”, Kashkari nói.

Dữ liệu về CPI tháng 8 sẽ được công bố vào ngày 13/9 - một tuần trước khi Fed họp - trong đó cập nhật các xu hướng diễn biến mới về giá năng lượng và các hàng hóa khác. Vì vậy, đây có thể coi là nguồn tham khảo “đáng giá” cho Fed trong quyết định lãi suất tăng ở mức bao nhiêu vào tháng 9 tới.

Đ. Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950