GDP quý I của Trung Quốc tăng trưởng kỷ lục

10:29 | 16/04/2021

Sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc tăng nhanh trong quý đầu tiên của năm nay, được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ hơn ở cả trong và ngoài nước, sự hỗ trợ của chính phủ nước này với các doanh nghiệp nhỏ.

gdp quy i cua trung quoc tang truong ky luc

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý I tăng kỷ lục 18,3% so với cùng kỳ năm trước, dữ liệu chính thức cho thấy sáng nay (16/4), tuy nhiên vẫn thấp hơn so với dự báo 19% của các nhà kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Reuters. Trước đó, tăng trưởng GDP quý IV/2020 của Trung Quốc đạt 6,5%.

Mức tăng kể trên là mạnh nhất kể từ năm 1992. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mức kỷ lục này có một phần là do so sánh với quý cùng kỳ suy giảm mạnh vì COVID-19 dẫn tới các biện pháp hạn chế nghiêm ngặt.

“Nền kinh tế Trung Quốc khởi đầu tốt trong quý I, đặc biệt là doanh số bán lẻ, nhưng đứng sau sự phục hồi kinh tế này - trong tương lai tới, điểm cần lưu ý sẽ là làm thế nào để tiếp tục tăng trưởng mà vẫn quản lý được rủi ro tài chính”, Marco Sun, chuyên gia phân tích thị trường tài chính tại MUFG Bank ở Thượng Hải, nêu vấn đề.

"Nói đến quản lý rủi ro tài chính, chúng ta có thể thấy việc thắt chặt định lượng qua định hướng tăng trưởng tín dụng trong quý II và có thể là cả sau đó".

Được hỗ trợ bởi các biện pháp ngăn chặn dịch bệnh nghiêm ngặt và cứu trợ khẩn cấp cho các doanh nghiệp, nền kinh tế Trung Quốc đã phục hồi từ mức sụt giảm mạnh 6,8% trong quý I/2020, khi một đợt bùng phát COVID-19 ở thành phố Vũ Hán trở thành một dịch bệnh lan tràn trên diện rộng.

Sự phục hồi đã được dẫn dắt bởi xuất khẩu cải thiện mạnh mẽ, khi các nhà máy chạy đua để đáp ứng các đơn đặt hàng ở nước ngoài và xu hướng tiêu dùng tăng ổn định bất chấp các trường hợp COVID-19 vẫn xảy ra đây đó ở một số thành phố.

Tuy nhiên nếu so với quý trước, tăng trưởng quý I đã chậm lại còn 0,6%, từ mức 3,2% đã được điều chỉnh trong quý trước đó, thấp hơn so với kỳ vọng tăng 1,5%.

Sản lượng công nghiệp tháng 3 tăng 14,1% so với cùng kỳ năm ngoái, chậm lại so với mức tăng 35,1% trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 2 và cách khá xa so với dự báo tăng 17,2%.

Doanh số bán lẻ tăng 34,2% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng Ba, cao hơn mức tăng 28,0% mà các nhà phân tích dự đoán và tốt mức tăng 33,8% trong hai tháng đầu năm.

Đầu tư vào tài sản cố định đã tăng 25,6% trong ba tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước, nhỉnh hơn so với mức dự báo tăng 25,0% nhưng thấp hơn so với mức tăng 35% của hai tháng đầu năm.

Theo một cuộc thăm dò của Reuters, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới dự kiến ​​sẽ tăng trưởng 8,6% trong năm nay, sau mức tăng 2,3% vào năm ngoái - mức thấp nhất trong 44 năm dù vẫn khiến Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn duy nhất tránh được suy giảm.

Năm nay, chính phủ Trung Quốc chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng khiêm tốn là trên 6%.

Các nhà phân tích cho biết, với nền kinh tế đang trên đà phục hồi vững chắc trở lại, ngân hàng trung ương Trung Quốc cũng đang chuyển trọng tâm chính sách sang hạ nhiệt tăng trưởng tín dụng để giúp kiềm chế nợ và hạn chế rủi ro tài chính, nhưng họ đang thận trọng để tránh cho sự phục hồi đi chệch hướng, các nhà phân tích cho biết.

Mặc dù vậy, các nhà hoạch định chính sách đã tuyên bố sẽ không thực hiện bất kỳ sự thay đổi chính sách đột ngột nào.

Các nhà chức trách đặc biệt lo ngại về rủi ro tài chính liên quan đến thị trường bất động sản quá nóng và đã yêu cầu các ngân hàng cắt giảm dư nợ cho vay trong năm nay để đề phòng bong bóng tài sản.

Dữ liệu công bố vào hôm nay cho biết giá nhà mới tại Trung Quốc đã tăng với tốc độ nhanh hơn trong tháng Ba, ngay cả khi các nhà chức trách thực hiện các biện pháp nhằm kiềm chế hoạt động đầu cơ bất động sản.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550