Giá dầu giảm do lo ngại COVID-19 lan rộng tại châu Âu sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu

10:08 | 23/03/2021

Giá dầu giảm 1% trong giao dịch sáng sớm nay do lo ngại làn sóng COVID-19 thứ ba ở châu Âu, các biện pháp kiềm chế đại dịch mới và việc triển khai vắc-xin chậm tại đây sẽ làm giảm triển vọng phục hồi nhu cầu nhiên liệu, trong khi nguồn cung dồi dào.

gia dau giam do lo ngai covid 19 lan rong tai chau au se anh huong den nhu cau

Giá dầu thô WTI giao tháng 5 giảm 62 cent, tương đương 1% xuống 60,94 USD/thùng lúc 8h49 sáng nay theo giờ Việt Nam. Hợp đồng dầu thô WTI tháng 4 hết hạn vào thứ Hai tới hiện ở mức 61,55 USD/thùng, tăng 13 cent so với thứ sáu, sau khi giảm hơn 6% vào tuần trước.

Giá dầu Brent giao tháng 5 giảm 68 cent, tương đương 1,1%, xuống 63,94 USD/thùng, sau khi tăng 9 cent trong phiên trước.

“Giá dầu giảm có liên quan đến các vấn đề triển khai vắc-xin và phong tỏa vì đại dịch ở châu Âu", Lachlan Shaw, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu hàng hóa của Ngân hàng Quốc gia Úc, nhận định.

Đức, nước tiêu thụ dầu lớn nhất châu Âu, dự kiến ​​sẽ tăng cường hạn chế hoạt động mua sắm và du lịch vào tháng 4 để ngăn chặn làn sóng COVID-19 thứ ba, khiến các nhà kinh tế phải cắt giảm dự báo tăng trưởng của họ.

Việc phong tỏa trên diện rộng đang được thúc đẩy bởi mối đe dọa của làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ ba, với một biến thể mới của vi-rút corona.

“Điều này làm gia tăng lo ngại rằng các dự báo bi quan từ cả Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) gần đây có thể xảy ra”, ANZ Research cho biết trong một bản tin.

IEA - cơ quan có trụ sở tại Paris, Pháp - tuần trước đã cắt giảm dự báo nhu cầu dầu thô trong năm 2021 xuống 2,5 triệu thùng/ngày, trong khi EIA dự báo nguồn cung dầu toàn cầu sẽ vượt quá nhu cầu trong nửa cuối năm 2021.

Thị trường dầu thô thực tế đang cho thấy nhu cầu thấp hơn nhiều so với thị trường kỳ hạn.

Nigeria, nhà sản xuất dầu lớn nhất châu Phi, hôm thứ Hai đã giảm giá bán chính thức đối với hàng giao trong tháng Tư, cho thấy các nhà cung cấp đang cố gắng thúc đẩy hoạt động bán hàng.

Angola, nhà sản xuất lớn thứ hai của lục địa này và cũng là nhà cung cấp chính cho Trung Quốc, vẫn còn một số hàng tồn trong tháng 4 chưa bán được, cho thấy sự thiếu quan tâm từ các nhà lọc dầu Trung Quốc.

“Giá dầu vật chất đã yếu hơn so với giá tương lai được đề xuất trong vài tuần gần đây", Shaw cho biết.

Dữ liệu dự trữ dầu thô của Mỹ từ Viện Dầu khí Hoa Kỳ sẽ được công bố vào cuối ngày hôm nay theo giờ đia phương. Các nhà phân tích ước tính tồn kho dầu thô của Mỹ giảm khoảng 900.000 thùng trong tuần tính đến ngày 19/3, trong khi hiệu suất sử dụng nhà máy lọc dầu tăng 3,2 điểm phần trăm, theo một cuộc thăm dò của Reuters.

Dữ liệu thống kê dự trữ dầu thô từ EIA, được coi là chính xác hơn, sẽ được công bố vào ngày mai.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: dầu

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.827 23.047 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.846 23.058 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.825 23.045 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.880 23.060 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.950
57.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.950
57.550
Vàng SJC 5c
56.950
57.570
Vàng nhẫn 9999
53.100
53.700
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.400