Giá dầu giảm khi triển vọng thương mại Mỹ - Trung Quốc mờ mịt dần

16:57 | 13/11/2019

Giá dầu đã giảm trong phiên giao dịch thứ Tư khi triển vọng cho một thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc mờ mịt dần, đè nặng lên viễn cảnh kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng đến dự báo về nhu cầu năng lượng.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết hôm thứ Tư rằng Mỹ và Trung Quốc đã gần hoàn tất một thỏa thuận thương mại, nhưng ông đã không cung cấp ngày hoặc địa điểm cho lễ ký kết, khiến các nhà đầu tư thất vọng.

Giá hợp đồng tương lai dầu Brent giảm 32 cent/thùng, tương đương 0,5%, xuống 61,74 USD/thùng vào 8 giờ sáng này theo giờ GMT (khoảng 15 giờ chiều ngày 13/11 theo giờ Việt Nam), trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) ở mức 56,54 USD/thùng, giảm 26 cent/thùng hay 0,5%.

Dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) về tăng trưởng nhu cầu dầu toàn cầu chậm hơn sau năm 2025 cũng đè nặng lên thị trường.

Nhu cầu dầu toàn cầu dự kiến ​​sẽ tăng trung bình 1 triệu thùng mỗi ngày đến năm 2025, nhưng được dự báo sẽ giảm 100.000 thùng mỗi ngày từ năm sau đó, do các giải pháp sử dụng nhiên liệu hiệu quả được cải thiện và chuyển dịch sang sử dụng xe điện, IEA cho biết trong báo cáo Triển vọng năng lượng thế giới thường niên, đề cập giai đoạn từ nay đến 2040.

Trong khi đó, ngay cả khi tăng trưởng sản xuất của Mỹ chậm lại so với những năm trước, nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới này vẫn sẽ đóng góp khoảng 85% vào mức tăng sản lượng dầu toàn cầu đến năm 2030 và 30% lượng khí đốt tăng thêm trong cùng giai đoạn, cơ quan này cho biết.

Tỷ lệ chiếm giữ của các thành viên Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và Nga trong tổng sản lượng dầu toàn cầu và Nga được dự báo sẽ giảm xuống 47% trong thập kỷ tới, tỷ lệ thấp chưa từng thấy kể từ những năm 1980.

“Thay đổi là dễ nhận thấy khi dầu đá phiến của Mỹ hiện đang đóng vai trò là đối trọng lớn làm thay đổi cán cân nhà cung cấp trên thị trường dầu mỏ”, Fatih Birol, Giám đốc điều hành của IEA nói.

Vào tuần trước, dự trữ dầu thô tại Mỹ được dự báo tăng tuần thứ ba liên tiếp, trong khi tồn kho các sản phẩm dầu tinh chế giảm, theo kết quả một cuộc thăm dò sơ bộ của Reuters được công bố hôm thứ Ba.

Năm nhà phân tích được thăm dò bởi Reuters ước tính, trung bình, dự trữ dầu thô của Mỹ đã tăng khoảng 1,6 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 8/11.

Diễn biến giá dầu WTI trong vòng một năm nay.

Các nhà phân tích của Ngân hàng ANZ cho biết triển vọng xuất khẩu dầu thô của Mỹ đã trở nên ảm đạm sau khi giá vận chuyển tăng vọt kể từ tháng trước, điều này cũng khiến hàng tồn kho cao hơn so với năm ngoái và cũng cao hơn so với trung bình 5 năm.

Trong một động thái liên quan, đường ống dẫn dầu Keystone công suất 590.000 thùng mỗi ngày vận chuyển dầu thô nặng của Canada đến Mỹ đã hoạt động trở lại sau sự cố tràn dầu hai tuần trước, một cơ quan quản lý của Mỹ cho biết hôm thứ Ba.

Các thương nhân hiện đang chú ý đến cuộc họp vào tháng tới giữa OPEC và Nga để xác định xem liệu nhóm này có tiếp tục cắt giảm sản lượng để đẩy giá lên hay không.

“Chúng tôi tin rằng việc kiểm soát sản lượng cung ứng ra thị trường có thể được kéo dài tới qua quý I/2020, tuy nhiên việc cắt giảm sản lượng lớn hơn sẽ không xảy ra”, các nhà phân tích tại Ngân hàng ANZ dự đoán.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: giá dầu

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530