Giá dầu giảm trước lo ngại nhu cầu chậm cải thiện

09:51 | 16/11/2021

Giá dầu giảm trong phiên giao dịch sáng nay (16/11) trong bối cảnh số ca lây nhiễm COVID-19 ở châu Âu gia tăng làm dấy lên lo ngại về triển vọng nhu cầu chậm cải thiện, trong khi thị trường kỳ vọng rằng nguồn cung sẽ tăng với việc Mỹ có thể giải phóng dự trữ dầu thô để ngăn chặn đà tăng giá xăng dầu.

gia dau giam truoc lo ngai nhu cau cham cai thien

Dầu thô Brent giao sau giảm 9 cent, tương đương 0,1%, xuống 81,96 USD/thùng vào lúc 8 giờ sáng nay theo giờ Việt Nam, trong khi dầu thô WTI giảm 10 cent, tương đương 0,1%, xuống 80,78 USD/thùng.

Châu Âu một lần nữa trở thành "tâm chấn" của đại dịch COVID-19 khi số ca nhiễm mới tăng nhanh khiến một số chính phủ phải xem xét áp dụng trở lại các biện pháp phong tỏa, trong khi Trung Quốc cũng đang phải chống chọi với đợt bùng phát lớn do biến thể delta gây ra.

"Giá dầu thô giảm do Tổng thống Mỹ Biden phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng buộc ông giải phóng dự trữ dầu thô của Mỹ để hạ nhiệt giá xăng", ANZ cho biết trong một bản tin. "Tâm lý thị trường cũng bị ảnh hưởng bởi những hạn chế đi lại mới ở châu Âu".

Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tuần trước đã cắt giảm dự báo nhu cầu dầu thế giới trong quý III thêm 330.000 thùng/ngày so với dự báo của tháng trước, do giá năng lượng cao cản trở sự phục hồi kinh tế toàn cầu.

Lo ngại ngày càng gia tăng trên thị trường dầu mỏ khi nhu cầu giảm trong khi nguồn cung dự kiến ​​sẽ tăng.

Tuần trước, các công ty năng lượng Mỹ đã bổ sung thêm các giàn khoan dầu và khí đốt tự nhiên trong tuần thứ ba liên tiếp, được khuyến khích bởi giá dầu thô tại Mỹ tăng 65% từ đầu năm đến nay.

Sản lượng dầu đá phiến của Mỹ trong tháng 12 tới dự kiến ​​sẽ đạt mức trước đại dịch là 8,68 triệu thùng/ngày, theo Rystad Energy.

Thêm áp lực lên giá dầu, đô la vẫn đang duy trì mạnh khiến hàng hóa trở nên đắt đỏ đối với những người mua nắm giữ các loại tiền tệ khác. Đô la Mỹ đã đạt mức giá cao nhất trong 16 tháng so với rổ tiền tệ khi các nhà đầu tư lo lắng về triển vọng nền kinh tế toàn cầu.

Các nhà quản lý tiền tệ đã tăng các vị thế quyền chọn và hợp đồng dầu thô dài hạn ròng của Mỹ trong tuần trước, Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Mỹ cho biết hôm thứ Hai.

Nhóm đầu cơ đã tăng vị thế hợp đồng tương lai và quyền chọn ở New York và London thêm 11.328 hợp đồng, lên 353.807 trong khoảng thời gian nói trên.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: dầu

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.470 22.780 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.500 22.780 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.500 22.800 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.500 22.760 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.530 22.740 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.530 22.730 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.495 22.900 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.520 22.800 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.530 22.730 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.550 22.730 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.850
62.570
Vàng SJC 5c
61.850
62.570
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.500
53.200