Giá dầu tăng nhờ sự lạc quan trước việc mở cửa trở lại của Mỹ, Châu Âu

10:31 | 18/05/2021

Giá dầu tiếp tục tăng trong phiên giao dịch sáng nay (18/5), khi sự lạc quan về việc mở cửa trở lại các nền kinh tế Mỹ và châu Âu đã xóa mờ lo ngại nhu cầu nhiên liệu yếu ở châu Á do số ca COVID-19 tăng cao kéo theo một làn sóng hạn chế mới.

gia dau tang nho su lac quan truoc viec mo cua tro lai cua my chau au

Dầu thô Brent giao sau tăng 20 cent, tương đương 0,3%, lên 69,66 USD/thùng vào lúc 9h31 sáng nay theo giờ Việt Nam, trong khi dầu WTI tăng 19 cent, tương đương 0,3%, lên mức 66,46 USD/thùng.

Cả hai hợp đồng giá dầu chuẩn này đều tăng hơn 1% trong phiên hôm qua.

"Thị trường vẫn giao dịch trong biên độ hẹp giữa bối cảnh giằng co giữa những lo ngại về việc lây lan mạnh các trường hợp nhiễm COVID-19 ở châu Á và sự lạc quan trước việc mở cửa trở lại nền kinh tế ở châu Âu và Mỹ, nhờ những tiến bộ trong tiêm chủng", Hiroyuki Kikukawa, tổng giám đốc bộ phận nghiên cứu tại Chứng khoán Nissan, nói.

“Nhưng bên cạnh đó, xuất hiện kỳ vọng rằng các cuộc đàm phán giữa Iran và Mỹ có thể dẫn đến việc nối lại xuất khẩu dầu của Iran, và điều này đang hạn chế đà tăng của giá dầu”, ông nói thêm.

Nền kinh tế Anh đã mở cửa trở lại sau giai đoạn phong tỏa vì COVID-19 kéo dài 4 tháng. Và với việc tăng tốc độ tiêm chủng, Pháp và Tây Ban Nha cũng đã nới lỏng các hạn chế, trong khi Bồ Đào Nha và Hà Lan đã cho phép người dân đi lại.

Tại Mỹ, bang New York không còn yêu cầu những người được tiêm chủng đầy đủ COVID-19 phải đeo khẩu trang ở hầu hết các không gian công cộng kể từ thứ Tư, và các khu vực khác cũng đang mở cửa nền kinh tế của họ.

Ngược lại, ở châu Á, Singapore báo cáo số ca lây nhiễm trong cộng đồng cao nhất trong nhiều tháng, còn Đài Loan cũng chứng kiến ​​số ca lây nhiễm tăng đột biến. Cả hai quốc gia đều đã áp dụng các biện pháp hạn chế.

Tại Ấn Độ, nơi đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch, doanh số bán xăng và dầu diesel của các nhà máy lọc dầu nhà nước đã giảm 1/5 so với cùng kỳ tháng trước trong nửa đầu tháng Năm, do các đợt đóng cửa đại dịch ảnh hưởng đến các hoạt động công nghiệp và tiêu dùng, dữ liệu sơ bộ cho thấy hôm thứ Hai.

Liên quan đến các cuộc đàm phán giữa Iran và Mỹ nhằm khôi phục Thỏa thuận hạt nhân Iran 2015, hai bên đang từng bước vượt qua một loạt lệnh trừng phạt do cựu Tổng thống Donald Trump áp đặt, sau khi ông từ bỏ Thỏa thuận ba năm trước.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: dầu

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.650 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.633 22.853 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.650 22.862 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.640 22.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.400
58.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.400
58.100
Vàng SJC 5c
57.400
58.120
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.600
51.400