Giá dầu tăng trước triển vọng OPEC+ tiếp tục cắt giảm sản lượng

10:04 | 01/04/2021

Giá dầu thô tăng trong phiên giao dịch sáng sớm nay, sau phiên giảm trước đó, do kỳ vọng rằng cuộc họp của OPEC và các đồng minh vào cuối ngày sẽ đạt được thỏa thuận kéo dài thời gian hạn chế sản lượng, khi dịch COVID-19 đang bùng phát trở lại ở một số khu vực.

gia dau tang truoc trien vong opec tiep tuc cat giam san luong

Giá dầu Brent giao tháng 6 tăng 31 cent, tương đương 0,5%, lên 63,05 USD/thùng vào lúc 8h59 sáng nay theo giờ Việt Nam, sau khi giảm 2,2% trong phiên trước. Dầu WTI tăng 38 cent, tương đương 0,6%, lên 59,54 USD/thùng, sau khi giảm 2,3% vào thứ Tư.

Bộ trưởng các nước thành viên Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh bao gồm Nga và Kazakhstan, một nhóm được gọi là OPEC+, sẽ họp vào cuối ngày hôm nay để xem xét các lựa chọn liên quan đến sản lượng sản xuất trong thời gian tới.

“Kết quả khả dĩ nhất của cuộc họp... là không có thay đổi đáng kể nào trong sản xuất”, Tập đoàn Eurasia cho biết trong một bản tin dự báo về kết quả cuộc họp.

“Sự thận trọng được thể hiện trong các cuộc thảo luận của OPEC+ chỉ ra rằng các quyết định nới dần việc cắt giảm sản lượng có thể sẽ được trì hoãn tới cuộc họp vào tháng 5”, Eurasia dự đoán.

Việc OPEC+ giảm dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu trong năm nay thêm 300.000 thùng/ngày cũng ảnh hưởng đến giá cả và khiến cuộc họp lần này có nhiều khả năng sẽ tiếp tục đưa ra các quyết sách kiềm chế sản lượng.

Hôm thứ Tư, Ủy ban Kỹ thuật hỗn hợp, cơ quan tư vấn cho nhóm các quốc gia sản xuất dầu bao gồm Ả Rập - Xê-út và Nga, đã không đưa ra khuyến nghị chính thức nào, ba nguồn tin từ OPEC+ cho biết.

OPEC+ hiện đang hạn chế sản lượng hơn 7 triệu thùng/ngày để hỗ trợ giá cả và giảm dư cung. Ả Rập Xê-út đã tự nguyện bổ sung vào các khoản cắt giảm đó thêm 1 triệu thùng/ngày.

Việc cắt giảm sản lượng được đưa ra sau khi các đợt bùng phát COVID-19 trở thành cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu lớn nhất trong một thế kỷ, dẫn đến nhu cầu về dầu và nhiên liệu giảm dần.

Quá trình phục hồi của thị trường nhiên liệu sau đó đã diễn ra không liên tục vì các đợt bùng phát dịch bệnh nối tiếp, dẫn đến nhiều biện pháp hạn chế hơn.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hôm thứ Tư đã đặt đất nước của ông vào tình trạng phong tỏa lần thứ ba và cho biết các trường học sẽ đóng cửa trong ba tuần để đối phó với làn sóng lây nhiễm COVID-19 thứ ba có nguy cơ đẩy bệnh nhân lấp đầy các bệnh viện.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: dầu

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150