Giá hàng hóa phụ thuộc vào Trung Quốc

10:45 | 22/02/2021

Vivek Dhar - một nhà kinh tế năng lượng tại Commonwealth Bank of Australia cho biết trên chương trình “Squawk Box Asia” của CNBC rằng, giá hàng hóa đang tăng lên. Nhưng liệu điều đó có tiếp tục trong một thời gian dài còn phụ thuộc vào triển vọng của kinh tế Trung Quốc.

Siêu chu kỳ tăng giá hàng hóa gần đây nhất xảy ra vào giữa những năm 2000 và đạt đỉnh vào năm 2008, khi Trung Quốc phát triển trở thành cường quốc hàng hóa. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu đã nhấn chìm giá các loại hàng hóa cơ bản. Chưa phục hồi được bao lâu, giá hàng hóa lại một lần nữa rơi vào thảm cảnh khi cuộc khủng hoảng Covid-19 nổ ra làm gián đoạn chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu.

Tuy nhiên giá các mặt hàng như dầu mỏ và kim loại cơ bản đã phục hồi mạnh từ tháng 10 năm ngoái nhờ những tin tức tích cực về các thử nghiệm vắc-xin Covid-19. “Bây giờ, câu hỏi mà chúng ta đang nói đến là có tái diễn siêu chu kỳ hay không, theo quan điểm của chúng tôi, điều đó vẫn phụ thuộc vào Trung Quốc”, Dhar nói.

gia hang hoa phu thuoc vao trung quoc
Ảnh minh họa

Nguyên do hiện Trung Quốc vẫn chiếm khoảng 50% đến 60% nhu cầu hàng hóa. “Vì vậy, nếu chúng ta định nói về siêu chu kỳ, tôi cho rằng, Trung Quốc làm gì vào năm 2021 là câu hỏi quan trọng”, Dhar nói và giải thích rằng sự gia tăng giá hàng hóa bắt đầu do Trung Quốc cam kết kích thích cơ sở hạ tầng vào năm 2020. Tuy nhiên, liệu động lực đó có tiếp tục vào năm 2021 hay không vẫn chưa rõ.

“Ý tưởng về một siêu chu kỳ tăng giá hàng hóa, mặc dù cũng có trường hợp có thể được thực hiện, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, thực sự Trung Quốc đang nắm giữ những con bài. Cho đến khi chúng tôi nhận thấy sự hỗ trợ về chính sách - và kế hoạch 5 năm tới (của Trung Quốc) thực sự ưu tiên các lĩnh vực thâm dụng hàng hóa thay vì các lĩnh vực dịch vụ hoặc lĩnh vực tiêu dùng - hiện tại chúng tôi không phải là người tin vào câu chuyện siêu chu kỳ đó”, Dhar nói.

Những bình luận của vị chuyên gia này hoàn toàn trái ngược với các ngân hàng đầu tư như JPMorgan và Goldman Sachs, vốn đang lạc quan về một siêu chu kỳ tăng giá hàng hóa sắp xảy ra.

Tính đến giữa tuần trước, giá kim loại cơ bản tiếp tục tăng trên sàn giao dịch London, với đồng tăng 2,57% ở mức 8.606 USD/tấn; nhôm tăng 1,23% lên 2.141 USD/tấn và kẽm tăng 2,17% lên mức 2.877 USD/tấn.

Giá dầu cũng được giao dịch cao hơn trong những phiên gần đây cho đến khi một cuộc khủng hoảng năng lượng và thời tiết băng giá ở Mỹ. Mặc dù vậy, kể từ tháng 11 đến nay, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI đã tăng gần 69%; dầu Brent cũng đã tăng khoảng 68%. Ngân hàng Commonwealth đã đặt mục tiêu giá dầu ở mức 65 USD/thùng vào cuối năm nay.

Mặc dù không mấy tin tưởng về siêu chu kỳ tăng giá hàng hóa, song Dhar lại tỏ ra rất lạc quan về giá dầu trong ngắn hạn chỉ cho rằng mức dự báo của Commonwealth là khá thấp. “Những kỳ vọng về vắc-xin Covid-19 chắc chắn là rất tích cực đối với dầu mỏ”, ông nói. “Khoảng 2/3 lượng dầu tiêu thụ gắn liền với việc di chuyển và vận chuyển, do đó bất cứ điều gì là thông tin tích cực trên mặt trận chống Covid-19 đều có tác động tích cực to lớn đến giá dầu và kỳ vọng về nhu cầu dầu”.

Ông cũng nói thêm rằng, quyết định của các nhà sản xuất dầu để giữ ổn định nguồn cung cũng như giảm một số nguồn cung đã cho phép giá năng lượng phục hồi. “Nhu cầu chắc chắn là quan trọng, nhưng phía cung đã chứng minh là rất, rất hỗ trợ về mặt cấu trúc. Đó là lý do tại sao đợt tăng giá dầu này thậm chí có thể vượt qua dự báo của chúng tôi và đạt 70 USD vào cuối năm”, Dhar nói.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.915 23.125 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.925 23.125 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.896 23.136 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.880 23.090 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.920 23.110 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.936 23.148 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.928 23.128 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.930 23.110 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.470
55.890
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.470
55.870
Vàng SJC 5c
55.470
55.890
Vàng nhẫn 9999
52.900
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.600
53.300