Giá hồ tiêu giảm, nhà nông đuối

15:00 | 16/07/2018

Theo Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), giá tiêu hiện nay vẫn trong xu hướng giảm do nguồn cung dồi dào và thị trường xuất khẩu chưa có tín hiệu khởi sắc. 

Ông Lê Văn Cung, ngụ tại xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho hay, gia đình ông đầu tư 600 cọc tiêu từ năm 2012, đến khi thu hoạch đúng vào “thời hoàng kim” của giá tiêu (giá bán tại vườn lên đến 195.000 đồng/kg), mỗi mùa gia đình ông thu được gần 250 triệu đồng sau khi đã trừ các khoản chi phí (phân bón, nhân công hái tiêu). Để an tâm dưỡng già, ông đầu tư thêm 400 cọc mới, với hy vọng thu nhập ổn định.

Kiên quyết giảm diện tích trồng hồ tiêu ở mức hợp lý

Nhưng ông đã bị hớ, bởi từ năm 2016 đến nay giá tiêu liên tục giảm, thu nhập của gia đình ông từ vườn tiêu chỉ còn ngót nghét vài chục triệu/năm, thiếu tiền chăm bón cho vườn tiêu, nên lại thất mùa. Sau mỗi mùa thu hoạch, ông chỉ còn biết trữ tiêu khô lại càng lâu càng tốt để chờ giá tốt hơn.

Tuy vậy, theo báo giá mới nhất từ Phòng Nông nghiệp huyện Chơn Thành ngày 12/7/2018, giá tiêu thu mua tại nhà của doanh nghiệp và thương lái chỉ còn 52.000 đồng – 53.000 đồng/kg. Đây là mức giá thấp nhất trong 10 năm qua, khiến người nông dân trồng hồ tiêu như ông Lê Văn Cung muốn bỏ vườn tiêu.

Theo bà Nguyễn Mai Oanh, Tổng Thư ký Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, tổng nhu cầu hồ tiêu trên thế giới vào khoảng 350.000 tấn/năm, trong đó, nguồn cung từ Việt Nam là 200.000 tấn/năm, chiếm khoảng 62% tổng sản lượng hồ tiêu toàn cầu. Hiện nay, có tới 95% sản lượng sản xuất tiêu của Việt Nam được dùng để xuất khẩu. Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu hàng đầu thế giới cả về quy mô lẫn sản lượng.

Và việc giá tiêu bị động như hiện nay là do nguồn cung trong nước đang vượt cầu. Diện tích trồng tiêu tự phát đã vượt quá hạn quy hoạch mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra. Hiện nay, diện tích hồ tiêu cả nước gần 160.000 ha, vượt quy hoạch định hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tới năm 2030 đến 300%. Còn trên thế giới, các quốc gia như Brazil, Campuchia và Trung Quốc… cũng đang không ngừng gia tăng diện tích trồng hồ tiêu.

Hệ lụy của việc tăng diện tích trồng tiêu tự phát trong nước là làm dư cung, giảm giá sản phẩm, Bên cạnh đó, nhiều địa phương có thổ nhưỡng không phù hợp cũng trồng tiêu khiến giảm năng suất, thiệt hại cho nhà nông. Trên thị trường xuất khẩu, hồ tiêu của Việt Nam phần lớn bán ở dạng thô, chưa đa dạng hóa sản phẩm, giá trị gia tăng thấp, chưa có thương hiệu, điều kiện bảo quản và chế biến sâu chưa được đầu tư nhiều. Đối với người trồng, thông tin về kỹ thuật sản xuất và thị trường đến còn hạn chế, hiện tượng thương lái thao túng thị trường vẫn xảy ra.

Theo Vụ Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), giá tiêu hiện nay vẫn trong xu hướng giảm do nguồn cung dồi dào và thị trường xuất khẩu chưa có tín hiệu khởi sắc. Để vượt qua khó khăn hiện tại, ngành tiêu Việt Nam phải chủ động được lợi thế là nắm giữ nguồn cung lớn, ngừng bán khi giá giảm xuống và kiên quyết giảm diện tích trồng hồ tiêu ở mức hợp lý.

Theo ông Phan Minh Thông, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phúc Sinh (một trong những doanh nghiệp xuất khẩu hồ tiêu tiêu lớn ở TP. Hồ Chí Minh), hiện tại Việt Nam và Campuchia đã qua vụ thu hoạch chính, nhưng nhiều nước khác (như Trung Quốc) đang vào vụ. Hồ tiêu khô có thể giữ lâu được, nên nhà nông có thể dự trữ sản phẩm lại, không nên bán ra ồ ạt khi giá thấp. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng nên giảm việc ký hợp đồng trước (hiện nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng bán trước cả năm 2018 ở mức dưới giá thành).

Thanh Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.550 23.860 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.550 23.830 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.530 23.830 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.530 23.830 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.560 23.830 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.600 24.100 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.615 24.165 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.539 23.850 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.600 23.890 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750