Giá vàng tuần tới: Chờ đợi sự hỗ trợ tích cực hơn

10:10 | 28/09/2019

Giá vàng thế giới và trong nước hôm nay tiếp tục là một phiên giảm. Dù các nhà đầu tư bán lẻ vẫn cho rằng giá vàng có thể tăng trong thời gian tới, nhưng có thể thấy “niềm tin” vào giá vàng đang ở mức thấp nhất kể từ giữa tháng 6 và đã giảm trong bốn tuần liên tiếp gần đây.

Thị trường vàng 27/9: Giá vàng thế giới ổn định
Thị trường vàng 26/9: Vàng trong nước đi ngược chiều thế giới

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 10h sáng nay 28/9 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.495,9 USD/oz, giảm 8,4 USD/oz (0,56%) so với cùng thời điểm. Giao dịch trong phiên dao động quanh ngưỡng 1.485,9 - 1.507,6 USD/oz.

Tính đến 12h đêm qua, giá vàng tương lai tháng 12 trên sàn Comex đang được giao dịch ở mức 1.501,80 USD/oz giảm khoảng 1% so với tuần trước.

Nhận định về giá vàng tuần tới, phần lớn chuyên gia phân tích chuyển sang “trung lập” với kim loại màu này sau khi giá vàng xuống dưới mức trung bình động 50 ngày và đồng USD đang mạnh lên gây áp lực lớn đến giá vàng trong thời gian tới.

Khảo sát của Kitco cho thấy, trong số 16 chuyên gia thị trường đã tham gia trả lời, có 8 chuyên gia (50%) cho rằng giá vàng đi ngang trong tuần tới. Trong khi đó, có 5 chuyên gia (31%) cho rằng giá vàng có thể sẽ tăng và 3 chuyên gia (19%) cho rằng giá vàng sẽ giảm.

Với 855 người tham gia cuộc thăm dò trực tuyến của Kitco, có 479 người (56%) cho rằng vàng sẽ tăng giá; 222 người (26%) dự đoán giá vàng sẽ giảm; 154 người (18%) còn lại cho rằng giá vàng đi ngang.

Mặc dù phần lớn các nhà đầu tư bán lẻ vẫn cho rằng giá vàng có thể tăng trong thời gian tới, nhưng có thể thấy, số chuyên gia đặt “niềm tin” vào giá vàng đang ở mức thấp nhất kể từ giữa tháng 6 và đã giảm trong bốn tuần liên tiếp gần đây.

Chuyên gia thị trường Ole Hansen nói rằng, ông hy vọng giá vàng sẽ giảm vào tuần tới và coi đó như một một sự chuẩn bị để có xu hướng tăng mạnh trong tương lai. “Tôi nghĩ rằng xu hướng tăng vẫn còn, chúng ta cần thấy nó tăng từ mức giá thấp hơn”, ông nói.

Hansen nói thêm rằng, ông sẽ không ngạc nhiên khi thấy giá vàng ở mức $ 1,450 trong thời gian tới.

George Gero, giám đốc điều hành của RBC Wealth Management cho biết, ông vẫn thấy vàng còn tiềm năng trong tuần tới. Tuy nhiên, ông cho biết, đồng USD đang mạnh lên tiếp tục là một áp lực lớn đối với vàng và điều này không dễ thay đổi trong “một sớm một chiều”.

“Nếu cần một kênh trú ẩn an toàn thì hiện tại đồng USD là lựa chọn tốt nhất. Tuy nhiên, vì lợi suất trái phiếu rất thấp nên các nhà đầu tư sẽ không mất nhiều thời gian để lựa chọn vàng là kênh trú ẩn an toàn tiếp theo”, George Gero nói thêm.

Charlie Nedoss, chiến lược gia thị trường cao cấp của Tập đoàn LaSalle Futures cho rằng, việc giá vàng xuống thấp là do sự “non gan” của một số nhà đầu tư nhỏ lẻ trên thị trường. Ông nói thêm rằng, hiện  giá vàng dưới mức trung bình động 50 ngày và mục tiêu tiếp theo sẽ ở mức 1,470 USD/oz.

Mặc dù giá vàng kết thúc tuần giảm 1%, tuy nhiên, một số nhà phân tích vẫn cho rằng vàng sẽ tăng lại trong thời gian tới khi sự không chắc chắn tiếp tục thống trị thị trường.

“Có rất nhiều yếu tố vẫn đang ủng hộ giá vàng như Brexit, tranh chấp thương mại Mỹ - Trung… “, Adrian Day, chủ tịch và giám đốc điều hành của Adrian Day Asset Management nhận định.

Trong khi đó, Kevin Grady, chủ tịch của Phoenix Futures and Options cho biết hiện tại ông đang trung lập với giá vàng và cho rằng, đây là thời điểm tốt để kiểm tra những yếu tố hỗ trợ của giá vàng, hãy cùng theo dõi biến động của thị trường.

Tại thị trường trong nước, giá vàng trong nước đang đồng nhịp với giá vàng thế giới khi tiếp tục giảm khá mạnh.

Tính đến 10h sáng nay, giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 41,700 - 42,000 triệu đồng/lượng, giảm 250 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra với cùng thời điểm hôm qua.

Trong khi đó, tại Hà Nội, giá vàng SJC hiện đang ở mức 41,700 - 42,020 triệu đồng/lượng, giảm 250 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra với cùng thời điểm hôm qua.

Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI hiện niêm yết giá vàng tại khu vực Hà Nội ở mức 41,700 - 42,000 triệu đồng/lượng, tăng 200 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 200 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm hôm qua.

Tại TP.HCM giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 41,700 - 42,000 triệu đồng/lượng, tăng 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 250 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với cùng thời điểm hôm qua.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.079 23.269 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.600
59.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.600
59.850
Vàng SJC 5c
58.600
59.870
Vàng nhẫn 9999
55.150
56.350
Vàng nữ trang 9999
54.750
56.050