Giai đoạn khó khăn của các ngân hàng toàn cầu

08:12 | 09/05/2022

Các ngân hàng toàn cầu đang đối mặt với một giai đoạn đầy khó khăn do tác động tiêu cực từ cuộc xung đột Nga - Ukraine, trong khi dòng vốn rẻ từ các ngân hàng trung ương (NHTW) đang có xu hướng thu hẹp.

Trong khi các ngân hàng đang gánh những khoản nợ có vấn đề sau khi đại dịch đã làm tê liệt thương mại toàn cầu và đóng cửa hàng nghìn doanh nghiệp trên toàn thế giới. Thì nay cuộc xung đột Nga - Ukraine bùng nổ đã đẩy châu Âu đến bờ vực suy thoái và gây ra tổn thất không chỉ với các ngân hàng ở lục địa già mà toàn thế giới. Bởi các doanh nghiệp trên toàn cầu đang phải đối mặt với chi phí sản xuất đang tăng cao, cộng thêm lãi suất toàn cầu cũng đang có xu hướng tăng. Điều đó tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà băng.

“Chiến tranh và tác động của nó đối với lạm phát giá cả là yếu tố thay đổi cuộc chơi và các công ty sẽ chịu tác động mạnh”, Carsten Brzeski - nhà kinh tế tại Ngân hàng ING của Hà Lan cho biết.

giai doan kho khan cua cac ngan hang toan cau
Ảnh minh họa

Điều khiến một số nhà đầu tư lo lắng là các vết nứt đã bắt đầu xuất hiện trong bảng cân đối kế toán ngân hàng, với kết quả cho thấy mức đệm vốn của JP Morgan, Barclays, HSBC, Morgan Stanley, Bank of America, Credit Suisse và Citi đều giảm dần trong ba tháng đầu tiên của năm 2022.

Đợt tăng lãi suất 50 điểm cơ bản lịch sử của Fed hôm 4/5 báo hiệu rằng nền kinh tế lớn nhất thế giới đang lo lắng về lạm phát hơn là tăng trưởng. Ở châu Âu, chi phí đi vay cũng đang diễn biến theo chiều hướng tương tự. NHTW Anh đã tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 1% chỉ sau Fed một ngày cũng để ứng phó với lạm phát. Trong khi theo các nguồn tin nói với Reuters, NHTW châu Âu có thể tăng lãi suất ngay sau tháng 7.

Mặc dù về lý thuyết, lãi suất tăng là tin tốt cho các ngân hàng bởi nó có thể tăng tỷ suất lợi nhuận của họ, nhưng tình hình lại không như vậy. Bởi lãi suất tăng cũng đang buộc các ngân hàng phải siết chặt kiểm soát trong bối cảnh nhiều khách hàng đang phải vật lộn với việc trả nợ.

Tháng trước, giám đốc điều hành JP Morgan Jamie Dimon đã cảnh báo về sự suy thoái kinh tế do chiến tranh và lạm phát tăng vọt, sau khi lợi nhuận quý đầu tiên của ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ lao dốc. JPMorgan được coi như là “chỉ báo” cho kinh tế Mỹ và kết quả kinh doanh kém khả quan của nó là điềm xấu cho các ngân hàng trên toàn thế giới.

“Cuộc suy thoái của những năm 1980 và 1990 kéo theo sự gia tăng lạm phát tương tự đã được trải nghiệm như ngày hôm nay”, Keith Wade - nhà kinh tế trưởng và nhà chiến lược của Schroders cho biết.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự đoán khu vực đồng euro sẽ chỉ tăng trưởng 2,8% trong năm nay so với mức 5,3% của năm 2021; và tăng trưởng dự kiến sẽ ở mức trung bình 2,3% vào năm 2023.

Không chỉ vậy EU hôm 4/5 đã đề xuất các biện pháp trừng phạt cứng rắn nhất đối với Nga, bao gồm lệnh cấm vận dầu mỏ theo từng giai đoạn. Điều đó có thể gây ra những rắc rối mới cho cả bên vay và ngân hàng.

Công ty tư vấn EY tuần trước dự báo 3,4% các khoản vay châu Âu sẽ không trả được trong năm nay và sẽ tiếp tục vào năm 2023. Con số này cao hơn nhiều so với mức 2,4% được ghi nhận vào năm ngoái, mặc dù thấp hơn mức vỡ nợ do hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ khu vực đồng euro. EY cũng dự đoán rằng tăng trưởng cho vay nói chung sẽ chậm lại.

Công ty tái cấu trúc Begbies Traynor cũng dự báo về thời gian ảm đạm sắp tới sau khi báo cáo các công ty Anh trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng tăng 19% trong quý đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái khi mà các biện pháp cứu trợ Covid bị cắt giảm và chi phí tăng lên.

Ken Orchard - một nhà quản lý quỹ tại T. Rowe Price nói rằng, mặc dù lãi suất tăng thường sẽ tạo cơ hội cho vay, nhưng hiện tại “không phải là thời điểm tốt để bổ sung tín dụng” trong bối cảnh xung đột ở Ukraine và triển vọng tăng trưởng không mấy tươi sáng của Trung Quốc.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850