Giải mã sức hút của cổ phiếu ngân hàng

19:07 | 15/06/2021

Bất chấp những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, trong nhóm các cổ phiếu, cổ phiếu ngân hàng vẫn cho thấy sức hấp dẫn lớn. Nhiều mã đã có mức tăng trưởng gấp vài lần kể từ đầu năm đến nay, thậm chí vượt xa so với mức định giá của các công ty chứng khoán. 

Tăng trưởng ấn tượng

Cùng với diễn biến chung của thị trường chứng khoán, cổ phiếu ngân hàng đang trở thành nhóm có đà tăng ấn tượng nhất từ đầu năm 2021. Tháng 5 cũng được coi là tháng “đại thắng” của nhóm cổ phiếu này khi 27 ngân hàng niêm yết thì cả 27 mã cổ phiếu đều tăng trưởng.

giai ma suc hut cua co phieu ngan hang
Cổ phiếu ngân hàng là nhóm có đà tăng trưởng nhất từ đầu năm 2021

Nhóm cổ phiếu có mức gia tăng chóng mặt phải kể đến BVB (Ngân hàng TMCP Bản Việt) tăng tới 66,7%, từ vùng giá 13.800 đồng/cổ phiếu lên 23.000 đồng/cổ phiếu. Mã SSB của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á tăng 45,3%, từ vùng giá 26.850 đồng/cổ phiếu lên 39.000 đồng/cổ phiếu và duy trì đà tăng liên tiếp dù mới niêm yết trên HOSE từ tháng 3. Mã SGB của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương tăng 47,8%, từ vùng giá 13.400 đồng/cổ phiếu lên 19.800 đồng/cổ phiếu.

Nhóm có mức tăng trung bình là ABB – 32,7% (Ngân hàng TMCP An Bình), TCB – 29,3% (Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam), CTG – 25,5% (Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam), MSB – 23% (Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam)…

Nhóm có mức tăng thấp nhất cũng ghi nhận khoảng 12-15%, bao gồm ACB (Ngân hàng TMCP Á Châu), BAB (Ngân hàng TMCP Bắc Á), BID (Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam), VIB (Ngân hàng TMCP Quốc tế)…

Nếu tính từ đầu năm, hàng loạt cổ phiếu ngân hàng đã ghi nhận đà tăng gấp đôi. Trong đó, cổ phiếu LPB của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt là mã tăng mạnh nhất 5 tháng qua với đà tăng vọt từ 12.400 đồng lên 28.000 đồng/cổ phiếu, tương đương mức tăng ròng 125,8%.

Dù đã bắt đầu có nhịp điều chỉnh trong những phiên đầu tháng 6 sau hơn hai tháng “làm mưa làm gió” trên thị trường, một phần ảnh hưởng do tình trạng nghẽn lệnh trên sàn HOSE nhưng nhóm cổ phiếu ngân hàng vẫn chứng tỏ được sức hút và được đánh giá là nhóm khả quan nhất trên thị trường chứng khoán.

Các chuyên gia tài chính cho rằng, có 3 nguyên nhân chính khiến cho cổ phiếu ngân hàng tăng phi mã trong thời gian vừa qua.

Thứ nhất là năm vừa qua phần lớn các ngân hàng đều có kết quả kinh doanh ấn tượng. Theo số liệu cập nhật của SSI Research, lợi nhuận trước thuế quý I/2021 của các ngân hàng niêm yết tăng trưởng mạnh +78,2% so với cùng kỳ, nhờ đẩy nhanh xử lý nợ xấu trong quý IV/2020, hệ số biên lãi ròng (NIM) cải thiện.

Trong báo cáo phân tích mới công bố, Công ty Chứng khoán Đầu tư Việt Nam (IVS) cho biết, kết quả kinh doanh quý I của hầu hết ngân hàng đều tích cực hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lợi nhuận các nhà băng tăng mạnh nhờ 4 yếu tố: nền lợi nhuận thấp của cùng kỳ năm 2020; tín dụng tăng trưởng cao trong quý I năm nay so với cùng kỳ và cuối năm 2020; biên lãi thuần mở rộng nhờ lãi suất huy động giảm mạnh hơn lãi suất cho vay; các ngân hàng tăng cường cắt giảm chi phí hoạt động, cùng chất lượng tài sản được kiểm soát tốt.

Báo cáo gần đây của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho rằng, kết quả kinh doanh quý II/2021 của ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục khởi sắc nhờ nền so sánh thấp.

Bên cạnh đó, thông tin về việc phê duyệt hạn mức tín dụng mới tại hàng loạt các ngân hàng tư nhân (sau khi những ngân hàng này đã chạm mức trần tín dụng được cấp và đang xin thêm hạn mức) và các kế hoạch phát hành thêm, chia cổ tức nhằm tăng vốn đặc biệt ở nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ là những sự kiện đáng chú ý trong thời gian tới.

Thứ hai, theo VDSC, trong năm 2021, ngành Ngân hàng sẽ chứng kiến một chu kỳ tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ, dự báo tăng trưởng 27% so với năm 2020, bất chấp diễn biến của dịch bệnh. Điều này đến từ chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước nhằm giảm tác động của dịch bệnh, như môi trường lãi suất thấp cùng chính sách tiền tệ mở rộng và các yếu tố được thúc đẩy bởi dịch bệnh như xu hướng cắt giảm mạnh chi phí.

Thứ ba là tăng vốn. Thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán SSI cho thấy, trong năm 2021 có khoảng 16 ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu của SSI đã lên kế hoạch tăng vốn điều lệ đáng kể. Cụ thể, vốn điều lệ tại các ngân hàng này theo kế hoạch tăng 82.700 tỷ đồng, tăng 31% so với 2020; trong đó, có khoảng 75% tăng qua chia tách cổ phiếu; 22% từ phát hành riêng lẻ hoặc phát hành quyền mua cổ phiếu, còn lại là thông qua phát hành ESOP (phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn người lao động). Do tác động pha loãng lợi nhuận là không đáng kể, việc tăng vốn được cho là yếu tố nâng đỡ cho vận động giá cổ phiếu ngân hàng.

giai ma suc hut cua co phieu ngan hang

Hút nhà đầu tư ngoại

Đà tăng giá của nhóm cổ phiếu ngân hàng đã tạo động lực chính khiến VN-Index và HNX-Index tăng mạnh trong tháng 5 và từ đầu năm. Thị trường chứng khoán liên tục phá đỉnh với thanh khoản mỗi phiên tăng cao kỷ lục.

Nắm bắt xu hướng này, khối ngoại liên tiếp bán ròng với giá trị hơn 1 tỷ USD từ đầu năm đến nay và ẵm trọn khoản lợi nhuận khủng, đặc biệt là từ nhóm cổ phiếu ngân hàng.

Mới đây, Quỹ đầu tư đến từ Phần Lan PYN Elite Fund vừa công bố hiệu suất đầu tư trong tháng 5/2021. Theo đó, 4 mã cổ phiếu ngân hàng gồm TPB, HDB, MBB, CTG chiếm tỷ trọng 39,1%. Riêng TPB tăng trưởng cao nhất 36,7% và tăng 130% kể từ khi đầu tư vào, tiếp tục kỳ vọng mạnh vào thị giá cổ phiếu này trong năm 2021.

Quỹ thành viên hơn 2 tỷ USD của Dragon Capital Vietnam Enterprise Investment Limited (VEIL) cũng vừa công bố báo cáo tuần với những khoản đầu tư thắng lợi lớn. Tính từ đầu năm đến nay, hiệu suất đầu tư của VEIL đạt 40%, cao gấp đôi mức tăng 18,62% của VN-Index và gấp đôi so với năm 2020; gấp 13 lần so với năm 2019. Tính đến 3/6, ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất danh mục VEIL với 34,04%, theo sau là bất động sản, nguyên vật liệu, năng lượng…

Theo Dragon Capital, định giá cổ phiếu ngân hàng và thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn rất hấp dẫn. Trên thị trường, một số ngân hàng Việt đang trong tầm ngắm đại gia ngoại .

Báo cáo mới đây của Công ty chứng khoán MB (MBS) cho biết, cổ phiếu ngân hàng vẫn sẽ đóng vai trò dẫn dắt thị trường trong thời gian tới, do có lợi thế về mặt thanh khoản và các thông tin hỗ trợ. Báo cáo triển vọng ngành Ngân hàng của Công ty chứng khoán BIDV (BSC) cũng nhận định, các ngân hàng sẽ tăng trưởng lợi nhuận cao nhờ sự phục hồi của nền kinh tế và kiểm soát tốt chất lượng tài sản sau dịch bệnh.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.880 23.110 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.910 23.110 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.890 23.110 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.910 23.100 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.910 23.090 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.910 23.090 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.907 23.120 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.890 23.105 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.910 23.090 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.940 23.100 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.600
57.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.600
57.300
Vàng SJC 5c
56.600
57.320
Vàng nhẫn 9999
50.900
51.600
Vàng nữ trang 9999
50.600
51.300