Giảm các lãi suất điều hành: NHNN phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ các TCTD khi cần tiếp cận vốn

08:00 | 30/04/2020

Với kinh nghiệm điều hành trong điều kiện thị trường biến động những năm qua, NHNN hiện có đủ năng lực, nguồn lực, công cụ cũng như các phương án cần thiết để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu; điều hành ổn định lãi suất và tỷ giá, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp khi cần thiết, đảm bảo thị trường tiền tệ, ngoại tệ hoạt động thông suốt.

Để phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính quốc tế và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) giảm đồng loạt các lãi suất điều hành, trần lãi suất tiền gửi và cả trần lãi suất cho vay ngắn hạn từ 0,25-1 điểm phần trăm/năm. Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) thông tin thêm về vấn đề này.

giam cac lai suat dieu hanh nhnn phat tin hieu san sang ho tro cac tctd khi can tiep can von
Ông Phạm Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN)

Xin ông cho biết ngành ngân hàng chấp hành chủ trương của Đảng, Chính phủ, chung tay chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, người dân, góp phần hỗ trợ nền kinh tế, giảm thiểu tác động của dịch Covid-19 như thế nào?

Ngay khi dịch Covid-19 bùng phát, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo kịp thời, có giải pháp ưu tiên chống dịch, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, chỉ đạo các bộ, ngành đưa ra các giải pháp điều hành, ứng phó phù hợp.

Về phía ngành ngân hàng, NHNN và các TCTD nhận thức sâu sắc chủ trương của Chính phủ để từ đó đã đưa ra các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế. NHNN cũng kêu gọi các TCTD sẵn sàng giảm lợi nhuận trong ngắn hạn nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.

Cụ thể, NHNN đã có nhiều văn bản chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, phù hợp với tình hình, diễn biến của dịch Covid-19. Ngày 13/3/2020, NHNN đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN quy định việc các TCTD cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng. Đây là giải pháp thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp, người dân kinh doanh gặp khó khăn do suy giảm doanh thu, rất cần được tháo gỡ kịp thời.

Sau khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) giảm mạnh và bất thường lãi suất điều hành về mức 0-0,25%/năm chỉ trong vòng 02 tuần, nhiều Ngân hàng Trung ương đã có các động thái tương tự, NHNN đã quyết định giảm các mức lãi suất để góp phần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vay vốn. Quyết định của NHNN là phù hợp với diễn biến thị trường quốc tế, áp lực lạm phát đã giảm bớt do giá dầu giảm mạnh, và đặc biệt là được hỗ trợ bởi nền tảng kinh tế vĩ mô trong nước đã được củng cố vững chắc trong những năm qua.

Việc giảm các lãi suất điều hành trong đó có lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chào mua OMOs phát tín hiệu về sự sẵn sàng của NHNN hỗ trợ các TCTD khi cần tiếp cận vốn.

Xin ông cho biết về các giải pháp về lãi suất vừa qua từ phía NHNN để hỗ trợ nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát?

Quan điểm điều hành của NHNN là hỗ trợ giảm lãi suất đối với các nhu cầu vay vốn trên cơ sở cân nhắc các yếu tố nền tảng kinh tế vĩ mô phù hợp, đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, an toàn hoạt động của hệ thống TCTD.

Bên cạnh các giải pháp miễn, giảm lãi trong thời gian qua, việc giảm 0,5%/năm đối với lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên sẽ làm giảm chi phí vốn của doanh nghiệp.

NHNN điều chỉnh lãi suất điều hành để phát tín hiệu rõ ràng, mạnh mẽ sẵn sàng hỗ trợ TCTD trong trường hợp cần tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, trên cơ sở mục tiêu kiểm soát lạm phát, NHNN giảm nhẹ lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng (lãi suất trên 6 tháng vẫn theo cơ chế thỏa thuận) sẽ tạo điều kiện cho TCTD cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng kéo dài kỳ hạn, qua đó, TCTD thuận lợi hơn trong việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí nhằm hỗ trợ khách hàng theo quy định tại Thông tư số 01/2020/TT-NHNN.

Về định hướng điều hành của NHNN trong thời gian tới?

Thời gian tới, NHNN theo dõi sát tình hình kinh tế vĩ mô, đặc biệt diễn biến thị trường tài chính toàn cầu (lãi suất, tỷ giá, giá dầu,…) qua đó cập nhật, phân tích, dự báo để sử dụng linh hoạt, đồng bộ các công cụ CSTT tại thời điểm và với liều lượng hợp lý.

Với kinh nghiệm điều hành trong điều kiện thị trường biến động những năm qua, NHNN hiện có đủ năng lực, nguồn lực, công cụ cũng như các phương án cần thiết để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu; điều hành ổn định lãi suất và tỷ giá, sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp khi cần thiết, đảm bảo thị trường tiền tệ, ngoại tệ hoạt động thông suốt.

Trân trọng cảm ơn ông!

PV

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.955 23.155 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.947 23.157 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.960 23.140 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.945 23.166 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.948 23.148 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.960 23.140 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.980 23.140 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.100
Vàng SJC 5c
55.750
56.120
Vàng nhẫn 9999
52.050
52.650
Vàng nữ trang 9999
51.650
52.350