Gian nan thu hồi đất bị xâm lấn

08:00 | 01/09/2020

Do tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, diện tích sản xuất nhỏ lẻ, nhiều khu rẫy nằm xen kẽ với rừng tự nhiên, cùng với công tác quản lý lỏng lẻo của các địa phương, các chủ rừng được giao quản lý rừng, đất lâm nghiệp… dẫn đến việc xâm lấn đất lâm nghiệp, đất rừng diễn ra trong suốt một thời gian dài.

Đất lâm nghiệp bị sử dụng trái phép

Những năm qua, do nhu cầu đất sản xuất, nhiều hộ dân ở khu vực Tây Nguyên xâm lấn đất lâm nghiệp để làm nương rẫy. Người dân lấn chiếm hàng trăm ngàn hecta đất rừng, đất lâm nghiệp để phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, bất chấp đó là việc làm trái pháp luật.

Mới đây, các chuyên gia đã nêu những con số đáng báo động như 13% diện tích rừng bị mất trong 3 năm từ 2014-2017, toàn bộ diện tích này bị sử dụng trái phép để trồng cây công nghiệp; tính từ năm 2010-2019 hơn 350.000ha rừng bị mất. Theo số liệu của Ban Kinh tế Trung ương, có 150.000 người ở các tỉnh Tây Nguyên liên quan đến các vụ phá rừng làm nông nghiệp.

gian nan thu hoi dat bi xam lan
Nhiều diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm khó có thể thu hồi để tái sinh rừng

Các chuyên gia cho rằng, hiện có hàng trăm ngàn người dân sinh sống, sản xuất nông nghiệp trên đất rừng không được thừa nhận về mặt pháp lý, và không được hưởng các chính sách của Nhà nước, thu nhập khó khăn, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn Tây Nguyên.

Trong khi đó, diện tích đất nông nghiệp trên đất rừng hình thành từ các nguyên nhân như đất nông nghiệp được người dân sản xuất lâu đời xen kẽ trong các lâm trường trước đây; các công ty, ban quản lý nhận giao khoán bảo vệ rừng nhưng để người dân sử dụng sau mục đích chuyển sang đất nông nghiệp; xấm lấn rừng trái phép nhằm chiếm dụng đất trồng nông sản; người dân chiếm đất rừng trong quá trình di cư tự do.

Một trong số các giải pháp được Ban Kinh tế Trung ương đưa ra để chống mất rừng do người dân lấn chiếm để sản xuất đất nông nghiệp là cần xây dựng phương án sử dụng đất đến năm 2030 tại vùng Tây Nguyên, đảm bảo đất rừng được sử dụng đúng mục đích. Cùng với đó, xác định ranh giới rừng bị mất, thống kê hộ dân cùng tài sản trên đất rừng để thực hiện giải pháp chống mở rộng diện tích xâm lấn rừng trước khi có phương án tái định canh, định cư. Cùng với đó, xây dựng đề án tổng thể giải quyết tình trạng sản xuất nông nghiệp trên đất rừng và xác định rõ trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng của chính quyền các cấp và các cá nhân, tổ chức nhận giao khoán bảo vệ rừng...

Khó thu hồi

Thực tế cho thấy, do tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, diện tích sản xuất nhỏ lẻ, nhiều khu rẫy nằm xen kẽ với rừng tự nhiên, cùng với công tác quản lý lỏng lẻo của các địa phương, các chủ rừng được giao quản lý rừng, đất lâm nghiệp… dẫn đến việc xâm lấn đất lâm nghiệp, đất rừng diễn ra trong suốt một thời gian dài.

Tại tỉnh Gia Lai, theo thống kê, cuối năm 2019, diện tích sản xuất nông nghiệp trên đất quy hoạch lâm nghiệp tại tỉnh Gia Lai khoảng 75.904 ha. Trong đó, diện tích do các chủ rừng quản lý khoảng 35.963ha, diện tích chưa có chủ rừng (do UBND cấp xã tự quản lý) khoảng 39.941ha. Trong đó, người dân trồng khoảng 318ha cao su, 268ha cà phê, 89ha hồ tiêu, 34ha cây ăn quả và cây trồng khác khoảng 75.194ha…

Các ngành chức năng và chính quyền các địa phương ở Gia Lai đang tiếp tục rà soát diện tích sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp để có hướng xử lý phù hợp. Theo thống kê của các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai, hiện đối tượng sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp đại đa số là cá nhân, hộ gia đình, với khoảng 11.126 hộ, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Phần lớn diện tích sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp xảy ra trước thời điểm thực hiện quy hoạch.

Trước thực trạng trên, chính quyền tỉnh Gia Lai đã có biện pháp đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân trên đất lâm nghiệp như rà soát lại 3 loại rừng, phân định rõ quy hoạch đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp. Những diện tích đã xây dựng nhà ở, sản xuất ổn định thì đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng để địa phương quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân. Đối với diện tích nằm trong quy hoạch 3 loại rừng thì thu hồi, vận động người dân chuyển cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp hoặc trồng lại rừng.

Với chủ trương này, trong 3 năm từ 2017 đến 2019, chính quyền tỉnh Gia Lai đã vận động người dân kê khai diện tích đang sản xuất cây nông nghiệp được trên 31.568ha. Trong đó, qua đối chiếu quy hoạch 3 loại rừng, có khoảng 17.865ha sản xuất trên đất quy hoạch lâm nghiệp; diện tích trồng rừng khoảng 18.098ha.

Tuy nhiên, thực tế, diện tích đất thu hồi trong những năm qua là không đáng kể. Vì vậy, theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để quản lý, bảo vệ rừng Tây Nguyên hiệu quả, cần ổn định tình trạng dân di cư tự do, xác định rõ trách nhiệm của chủ rừng, đơn vị quản lý các cấp; rà soát, điều chỉnh các loại rừng để có giải pháp bảo vệ phát triển rừng…

Đồng thời, các tỉnh Tây Nguyên cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách pháp luật hiện hành; rà soát xây dựng cơ chế chính sách lâm nghiệp đặc thù vùng Tây Nguyên; tiếp tục sắp xếp đổi mới công ty lâm nghiệp; đẩy mạnh việc phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu; tiếp tục giao rừng gắn với giao đất cho cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân quản lý; không để phát sinh diện tích rừng bị tranh chấp, lấn chiếm…

Bài và ảnh Giao Long

Nguồn:

Tags: đất đai

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.040 23.250 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.060 23.240 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.020 23.250 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.060 23.235 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.050 23.230 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.050 23.230 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.062 23.277 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.051 23.251 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.050 23.230 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.070 23.220 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.150
55.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.150
55.600
Vàng SJC 5c
55.150
55.620
Vàng nhẫn 9999
53.300
53.800
Vàng nữ trang 9999
52.700
53.500